Cây Bương

I. Giới thiệu về cây Bương

  • Tên gọi: Cây bương hay còn gọi là Bương mốc, Bương lớn, Bương, Mạy tền, Mạy đền.
  • Tên khoa học: Dendrocalamus sinicus Chia et J. L. Sun
  • Họ: Hoà Thảo (TRE TRÚC)
  • Phân bố: Bương hầu như chưa phát hiện thấy phân bố tự nhiên ở nước ta, thường chỉ gặp ở dạng rừng trồng hoặc trồng cây phân tán ở các tỉnh phía Bắc như: Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình và các huyện phía Tây của Hà Nội, nhiều nhất là ở huyện Ba Vì.

Cây Bương

II. Đặc điểm của cây Bương

  • Bương là loài tre thân ngầm dạng củ, thân khí sinh mọc cụm thưa cây, cao từ 12 – 15m, đường kính từ 10 – 12cm, ngọn rủ; thân thẳng và tròn đều, nhẵn, nhỏ dần từ gốc tới ngọn, khi non có màu xanh nhạt và phủ phấn trắng.
  • Một số đốt ở gần gốc thường có vòng rễ khí sinh, lóng hình trụ tròn, một số lóng gần gốc khá ngắn, lóng ở giữa thân dài trung bình từ 17 – 22cm, có khi dài tới 40cm, vách dày từ 1,5 – 2,3cm. Đốt có một dải lông tơ màu nâu và rộng khoảng 3 – 4mm. Chiều cao phân cành thường từ 3 – 5m, cành chính thường kém phát triển và không có gai.
  • Mo thân ở các đốt gần gốc, nơi không phân cành thì rụng muộn hoặc tồn tại trên thân; bẹ mo chất da dày, lúc đầu màu xanh vàng, dài hơn lóng, mặt ngoài có lông mềm và thưa, mặt trong phủ lông gai nhỏ giữa các gân.
  • Cành nhỏ mang trung bình từ 7 – 9 lá, bẹ lá khi non phủ lông nhung, sau không lông, tai lá khuyết.
  • Phiến lá dài từ 20 – 40cm, rộng từ 4 – 6,5 cm, hai mặt phủ lông mềm, thưa hoặc gần như không lông, gân cấp hai từ 10 – 13 đôi.
  • Cành hoa có lá hoặc không lá, cụm hoa dạng chùy tròn, mỗi đốt cành hoa mang từ 1 đến nhiều bông hoa nhỏ, chiều dài lóng cành từ 2 – 4cm, phủ lông nhung; bông nhỏ hơi dẹt, dài từ 3 – 3,5cm, rộng từ 6,5 – 7,5mm, đầu nhọn, có từ 5 – 6 hoa nhỏ; hoa nhỏ tận cùng chỉ có mày ngoài; bao phấn dài từ 8 – 12mm, vòi rất dài
Xem thêm:  Cây Hoa Lan Hài Gấm

III. Tác dụng của cây Bương

  • Bương lớn có kích thước rất to (có lẽ là loài tre có kích thước lớn nhất Việt Nam), dài, chắc, bền nên thường được dùng làm cột buồm, làm nhà. Dân tộc vùng cao dùng.
  • Bương làm máng dẫn nước. Bương làm nguyên liệu cho công nghiệp giấy, chế biến thay thế cho gỗ có hiệu quả cao. Măng Bương lớn to, ăn ngon, ăn tươi hoặc phơi khô, cũng có thể đóng hộp.

IV. Cách trồng và chăm sóc cây Bương

1. Cách trồng 

  • Chọn nơi và đất trồng

Những nơi có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 20 – 24°C, lượng mưa trung bình hàng từ 1.500mm trở lên. Độ cao dưới 800m so với mực nước biển, thích hợp nhất là dưới 300m. Độ dốc dưới 35 độ, nhưng tốt nhất là từ 10 – 20 độ. Có thể trồng Bương mốc trên nhiều loại đất khác nhau, độ dày tầng đất từ 50cm trở lên, nhưng tốt nhất là đất phát triển trên các loại đá mẹ phiến thạch sét, diệp thạch, sa thạch, đá vôi, hay đất dốc tụ và bồi tụ, giầu mùn ở ven sông suối, đất tơi xốp, ẩm và thoát nước tốt.

  • Thời vụ trồng

Ở các tỉnh miền núi phía Bắc có thể trồng Bương mốc từ tháng 2 – 4 hoặc từ tháng 7 – 8 hàng năm, trồng vào những ngày có mưa hoặc râm mát.

  • Phương thức và mật độ trồng

Tùy thuộc vào đặc điểm địa hình cụ thể của nơi trồng rừng, có thể áp dụng một trong những phương thức sau: i/ Trồng tập trung thuần loài; ii/ Trồng phân tán. Nếu trồng tập trung thuần loài có thể trồng theo từng lô không quá 3,0ha/lô, mật độ có thể trồng từ 100 – 625 khóm/ha. Tuy nhiên, phổ biến là 210 – 330 khóm/ha, tức là cự ly hàng cách hàng từ 6 – 8m, khóm cách khóm trên hàng từ 5 – 6m. Nếu trồng phân tán có thể trồng quanh nhà, trong vườn hộ xen với cây ăn quả hoặc cây gỗ, bên bờ ao, ven suối… khóm nọ cách khóm kia ít nhất 5m.

  • Xử lý thực bì

Nơi đất dốc ≥15 độ thường áp dụng phương thức xử lý thực bì cục bộ theo rạch rộng từ 1,5 – 2m, chỉ phát toàn diện trên rạch chặt, xác thực vật được xếp theo hàng sát băng chừa nhưng ở phía dưới dốc của băng chặt để hạn chế xói mòn đất.

Xem thêm:  Cây Hoa Tiên

Nơi địa hình tương đối bằng phẳng hoặc hơi dốc (

  • Làm đất

Chủ yếu sử dụng phương pháp thủ công, dùng các dụng cụ chuyên dùng đào hố với kích thước là 40 x 40 x 40cm hoặc 50 x 50 x 40cm, khi đào hố chú ý để lớp đất mùn tầng mặt sang một bên và lớp đất tầng dưới sang một bên, hố được đào trước khi trồng ít nhất là 15 ngày.

  • Bón lót và lấp hố

Bón lót từ 15 – 20kg phân hữu cơ/hố (phân chuồng, phân xanh), hoặc bón 3kg phân hữu cơ vi sinh kết hợp với 0,7 kg NPK (5.10.3)/hố, sau đó dùng cuốc gạt lớp đất mặt đã đào ở hố lên và gạt lớp đất mặt xung quanh hố xuống cho tới khi đầy 2/3 hố, đảo đều phân và đất trong hố, tiếp tục gạt lớp đất còn lại đã đào ở hố lên cho ngang bằng miệng hố.

Công việc này phải hoàn thành trước khi trồng từ 10 – 15 ngày, nếu bón phân xanh thì công việc làm đất và bón phân phải hoàn thành trước khi trồng ít nhất 30 ngày để ủ hoai phân.

  • Kỹ thuật trồng

Nếu trồng bằng hom gốc cần phải cắt ngắn rễ từ 2 – 3 cm và hồ gốc bằng cách nhúng thân ngầm (củ) xuống nước vài giờ, sau đó nhúng xuống bùn loãng.

Khi trồng (kể cả trồng bằng hom gốc, hom cành giâm và hom cành chiết), dùng cuốc tạo một lỗ chính giữa hố, độ sâu đảm bảo sao cho phần thân ngầm hay bầu đất thấp hơn mặt đất xung quanh khoảng 5cm; nếu là hom gốc thì đặt cây giống xuống lỗ, xoay ngửa phần nõm của thân ngầm lên trên, phần thân khí sinh nghiêng một góc 60 độ hướng về phía đỉnh dốc hoặc về cùng một hướng song song với đường đồng mức, điều chỉnh sao cho 2 hàng mắt mầm hướng sang hai bên; nếu là hom cành kể cả cành chiết đã ra 1 thế hệ măng thì bóc bỏ vỏ bầu, đặt cây thẳng đứng trong hố.

Xem thêm:  Cỏ Đuôi Ngựa

Tiếp theo là vun đất vào gốc, nén chặt xung quanh nhưng tránh không được làm tổn thương đến các mắt mầm hoặc vỡ bầu, vun đất hình mai rùa và cao hơn mặt đất xung quanh khoảng 4 – 5cm hoặc cao đến 1/2 lóng thứ nhất của hom. Sau đó tủ rơm, rạ, cỏ, rác khô xung quanh gốc cây để giữ ẩm, tưới nước đủ âm cho đất xung quanh gốc cây.

2. Chăm sóc

  • Sau khi trồng từ 1 – 2 tháng cần kiểm tra và tiến hành trồng dặm cây chết hoặc thay thế những cây hom có nguy cơ chết, khả năng sinh trưởng kém bằng những cây hom đảm bảo tiêu chuẩn dự phòng ở vườn ươm. Nếu gặp thời tiết nắng nóng khô hạn cần tưới nước đủ ẩm thường xuyên vào buổi sáng sớm hay buổi chiều tối cho đến khi nẩy chồi.
  • Chăm sóc trong 3 năm đầu, năm thứ nhất chăm sóc từ 2 – 3 lần tùy theo thời vụ trồng (trồng vụ Xuân thì chăm sóc 3 lần, trồng vụ Hè – Thu thì chăm sóc 2 lần); năm thứ 2 và thứ 3, mỗi năm 3 lần, lần thứ nhất chăm sóc vào đầu năm (mùa Xuân), lần thứ hai chăm sóc vào giữa năm (Hè – Thu) và lần thứ ba vào cuối năm kết hợp phòng chống cháy rừng (mùa Đông). Nội dung chăm sóc chủ yếu là phát dây leo, cây bụi, rẫy cỏ, xới xáo xung quanh gốc cây với đường kính rộng 1m.
  • Trong quá trình chăm sóc từ năm thứ 2 trở đi chú ý chặt bỏ những cành nhánh sát mặt đất, chặt bỏ cây già, cây bị sâu bệnh hoặc bị gẫy dập. Đặc biệt là điều chỉnh độ tàn che sao cho đảm bảo dưới 25% nếu là trồng hỗn giao hoặc trồng xen với cây ăn quả hoặc cây gỗ. Thường xuyên theo dõi và kiểm tra phát hiện sâu bệnh hại để có biện pháp phòng trừ kịp thời. Tuyệt đối ngăn chặn lửa rừng và gia súc phá hoại măng cũng như cây trưởng thành.

Viết một bình luận