Cây Bông Ổi

I. Giới thiệu về cây

  • Tên thường gọi: Bông ồi
  • Tên gọi khác: Nhá khí mu, Cứt lợn, ổi nho, Hoa ngũ sắc, Trâm ổi, Thơm ổi, Bông ổi, Hoa tứ thời, Bông hôi, Mã anh đơn
  • Tên khoa học: Lantana camara L. – Lantana aculeata L.
  • Họ: Verbenaceae
  • Nơi sống: Cây nguồn gốc các nước Trung Mỹ, sau được phổ biến đi khắp các nước vùng Viễn Đông, Mangat, Tân Calêđônia. Tại Tân Calêđônia cây mọc hoang và phát triển tới mức độ chính phủ ở đây phải ra lệnh triệt hết những cây này dù chỉ giữ một gốc để làm cảnh cũng không được phép. Tại Việt Nam cây được trồng làm cảnh và mọc dại. 

Cây Bông Ổi

II. Đặc điểm của cây

  • Cây nhỏ mang nhiều cành ngang, có lông và gai ngắn quặp về phía dưới.
  • Lá hình bầu dục, đầu nhọn, mặt xù xì, mép có răng cưa, mặt trên có lông ngắn, cứng, mặt dưới lông mềm hơn, phiến lá dài 3-9cm, rộng 3-6cm, cuống lá ngắn, phía trên cuống có dài.
  • Hoa không cuống, màu trắng, vàng, vàng cam hay đỏ mọc thành bông hình cầu gần giống như hình đầu. Hoa có lá bắc hình mũi giáo. Đài hình chuông, có hai môi. Tràng hình ống có 4 thùy không đều.
  • Quả hình cầu, màu đỏ nằm trong lá đài, mang hai hạch cứng, xù xì.

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Tại Việt Nam cây được trồng làm cảnh và mọc dại. Toàn thân cây tỏa ra một mùi đặc biệt có người ưa nhưng cũng có người không ưa
  • Một số nơi dân gian dùng lá cây bông ổi giã nát đắp lên những vết thương, vết loét, người ta cho lá bông ổi có tính chất sát trùng lên da, cầm máu. Người ta còn dùng đắp nơi rắn cắn và cho vào nồi nước xông chữa cảm mạo, sốt.
Xem thêm:  Cây Kim Ngân Lượng

Viết một bình luận