Cây Chùm Hôi

I. Giới thiệu về cây Chùm hôi

  • Chùm hôi hay còn gọi là cây Kim sương, Ớt rừng
  • Tên khoa học là Micromelum falcatum (Lour.)
  • Cây thuộc họ Cam – Rutaceae
  • Cây phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, từ nam Trung Quốc, Ấn Độ đến các nước Đông Nam Á, Australia, Polynesia,… Ở Việt Nam, chùm hôi thường mọc ở vùng núi thấp và trung du. Cây chịu bóng, mọc dưới tán rừng thưa, rừng núi đá vôi hoặc trong các quần hệ cây bụi sau nương rẫy.

Cây Chùm Hôi

II. Đặc điểm của cây Chùm hôi

  • Đây là cây nhỏ hay nhỡ, có thể cao đến 5-6m. Cành non có lông mềm mịn như len, cành già nhẵn.
  • Lá kép mọc so le, gồm 7-9 lá chét hình mũi mác, màu lục hơi vàng, gốc lệch, đầu có mũi nhọn, mép uốn lượn, hai mặt nhẵn trừ gân giữa, gân lồi rõ ở mặt dưới, cuống lá kép và cuống lá chét đều có lông tơ.
  • Cụm hoa mọc ở đầu cành thành xim ngù, ngắn hơn lá, cuống có lông như len; lá bắc nhỏ; hoa màu trắng hay vàng nhạt; đài 5 răng ngắn có lông mềm; tràng 5 cánh nhẵn, mọc cong xuống; nhị 10 không đều, rời nhau, bầu hình trứng có lông.
  • Quả hình trứng, nhẵn, khi chín màu vàng đến vàng cam; hạt có lá mầm mỏng, màu lục. Mùa hoa tháng 4-6, mùa quả tháng 7-9.
  • Cây ra hoa quả đều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Sau khi chặt, gốc còn lại cũng có khả năng sinh cây chồi.
Xem thêm:  Cây Cam Thảo

III. Tác dụng của cây Chùm hôi

Theo Đông y, chùm hôi có vị cay, đắng, tính ấm; có tác dụng tán ứ, giãn gân, hoạt huyết, giảm đau, giải độc, kích thích tiêu hóa. Người ta thường dùng lá trị cảm mạo, rắn độc cắn, các vết thương nhiễm trùng hay sâu bọ đốt.

Lá sao vàng ngâm rượu xoa bóp chữa tê thấp, teo cơ. Rễ chữa đau họng, ho hen, tức ngực, phong thấp tê bại, chân tay co quắp, đòn ngã gãy xương, vết đứt dao chém. Một số nơi dùng lá hay rễ sắc uống chữa kinh nguyệt không đều, sốt, đau dạ dày.

Viết một bình luận