Cây Càng Cua

I. Giới thiệu về cây

  • Tên thường gọi: Càng cua
  • Tên gọi khác: Dây sữa, ẩn lân, Bạch diệp đằng, Khau mè
  • Tên khoa học: Cryptolepis dubia (Burm.f.) M.R. Almeida – Cryptolepis buchananii Roem. et Schult.
  • Họ: Asclepiadaceae
  • Nơi sống: Khắp từ vùng núi thấp giáp biên giới phía bắc, đến vùng trung du, đồng bằng của các tỉnh ở Nam Bộ và các đảo lớn. Cây cũng gặp nhiều ở Ấn Độ, các nước Đông Dương và các tỉnh phía nam Trung Quốc.

Cây Càng Cua

II. Đặc điểm của cây

  • Cây thảo, leo bằng thân quấn. Thân cành nhẵn, phình ở mấu, khi non màu xanh lục, sau màu nâu xám, có nốt sần. Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc hơi hình trứng, dài 8 – 18 cm, rộng 4-9 cm, gốc tròn, đầu hơi có mũi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên bóng, gân phụ 20-30 đôi xếp sít nhau và gần như vuông góc với gân chính.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành xim ngắn; hoa nhỏ màu vàng; đài có 5 răng nhọn; tràng có ống ngắn, cánh hoa hình mũi mác, uốn lượn, tràng phụ có vảy ngắn; nhị có chỉ nhị không dính liền, bao phấn hình mũi tên, có nhiều lông.
  • Quả gồm 2 đại, dài 7 – 8 cm, rộng khoảng 1 cm, xếp đối diện nhau thành đường thẳng, đầu thuôn nhọn, hạt dài hơn 2 cm, có lông trắng.
  • Mùa hoa: tháng 5-7; mùa quả: tháng 8-10.
Xem thêm:  Cây Bòng Bong

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Dân gian dùng lá tươi băm nhỏ lấy nhựa bôi chữa nhọt mủ
  • Ở Trung Quốc, người ta dùng toàn cây trị đòn ngã chấn thương, mụn nhọt, sưng lở và lấy nhựa cây bôi chữa vết thương do gai đâm.
  • Ở Nepal, nhân dân bôi nhựa mủ của cây để trị đau lưng.

IV. Cách trồng và chăm sóc cây

  • Càng cua là loại cây ưa sáng và có khả năng chịu hạn cao, thường leo lên các cây bụi hay cây gỗ nhỏ ở vùng đồi, ven rừng thưa, bờ nương rẫy hay trong các lùm bụi quanh làng.
  • Càng cua ra hoa quả nhiều hàng năm; quả có túm lông phát tán nhờ gió.
  • Cây còn có khả năng tái sinh dinh dưỡng khỏe từ các đoạn thân và mọc cây chồi sau khi bị chặt.
  • Càng cua trồng được bằng cách giâm cành.

Viết một bình luận