Vòng Đời Của Sán Lá Gan

I. Nguyên nhân

Bệnh do 2 loài sán có tên là Fasciolagigantica và Fasciola heptica gây ra, chúng ký sinh ở gan. , mật và ảnh hưởng xấu đến vật nuôi.

Vòng tuần hoàn của sán lá gan truyền qua hai loại vật chủ là trâu, bò, dê… và vật chủ trung gian là ốc nước ngọt. (lymnae). Sán trưởng thành thải trứng theo phân, trong điều kiện thích hợp của môi trường (nhiệt độ, độ ẩm), trứng phát triển thành ấu trùng (gọi là magicidium). Miracidium sẽ xâm nhập vào các loài lymnae ốc ký chủ trung gian và sinh sản trong ốc sau đó ra khỏi ốc, bơi trong nước và bám vào thực vật thủy sinh tạo thành kén. Gia súc, người ăn phải rau, cỏ dính vào đường tiêu hóa sẽ chui qua thành ruột non vào xoang bụng, vào gan và sống trong gan 6 – 7 tuần trước khi phát triển thành sán trưởng thành ký sinh. ống mật. Chu kỳ kéo dài 3 – 4 tháng kể từ khi trâu ăn kén đến khi sán lá gan trưởng thành. Một con sán trưởng thành có thể sống trong đường mật của gan khoảng 3-11 năm.

Vòng Đời Của Sán Lá Gan
Vòng Đời Của Sán Lá Gan

II. Đặc điểm dịch tễ học

Bệnh xảy ra ở tất cả các loài nhai lại, kể cả người. Gia súc bị nhiễm bệnh nặng hơn và bị ảnh hưởng bởi bệnh ở mọi lứa tuổi. Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh ở miền núi khoảng 30 – 35%, đồng bằng khoảng 40 – 70%.

Bê và con bị nhiễm trùng sẽ phát bệnh cấp tính. Với điều kiện khí hậu nước ta, bệnh có thể xảy ra quanh năm. Bởi vì, thời tiết ấm và ẩm ướt trên mặt đất làm cho ốc ký chủ phát triển mạnh, từ đó làm môi giới truyền ấu trùng sán dây lợn cho gia súc. Hầu hết trâu bò nhập nội đều mắc bệnh sán lá gan, kể cả bò sữa. Gia súc bị nhiễm sán khi gặp điều kiện không thuận lợi trong mùa đông và đầu xuân (làm việc nặng nhọc, trời rét, thiếu thức ăn thô xanh) sẽ phát bệnh hàng loạt, dẫn đến chết nên người chăn nuôi thường nhầm với bệnh truyền nhiễm.

Xem thêm:  Hướng Sản Xuất Của Lợn Móng Cái

III. Triệu chứng

Thể mãn tính: Gia súc bị bệnh suy nhược cơ thể, suy nhược, thiếu máu, tiêu chảy kéo dài làm mất sức cày kéo dần. và khả năng sinh sản.

Thể cấp tính: Gia súc ốm bỏ ăn, tiêu chảy nặng, phân loãng màu xám, mùi tanh. Sau vài ngày phát bệnh, họ yếu dần rồi nằm bẹp, không đi lại được và chết vì mất nước, kiệt sức. Thể bệnh này thường gặp ở bê dưới 6 tháng tuổi do nhiễm thứ phát các vi khuẩn có sẵn trong dạ dày, ruột như Salmonella, E.coli… Cũng có một số trường hợp trâu, bò chết cấp tính. mà không có bất kỳ triệu chứng bên ngoài.

IV. Chẩn đoán

Chẩn đoán lâm sàng: Phương pháp này thường khó do các dấu hiệu thường không điển hình. Người nuôi có thể dựa vào một số triệu chứng như: Thiếu máu kèm theo vô cảm, bỏ ăn, gầy còm, da vàng vọt; Tiêu chảy xuất hiện và cuối cùng, trong những trường hợp nghiêm trọng, phát triển phù nề và suy yếu gia súc. Khi chạm vào hạ sườn phải gây ra cảm giác đau rõ rệt.

Soi phân: Để phát hiện trứng đặc trưng của sán lá gan trong phân. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ hiệu quả trong trường hợp vật nuôi bị bệnh mãn tính. Hơn nữa, việc sản xuất trứng không liên tục, không liên tục phụ thuộc vào sự bài tiết chất lỏng từ túi mật và vào đặc tính sinh học của ký sinh trùng. Vì vậy, nên làm lại xét nghiệm để chẩn đoán bệnh theo cách này và lấy mẫu đại diện của một số gia súc trong cùng một đàn.

Xem thêm:  Kỹ Thuật Nuôi Tôm Càng Xanh Trên Ruộng Lúa

Kiểm tra huyết thanh: Gần đây, các kỹ thuật huyết thanh đã được phát triển và áp dụng để chẩn đoán và nghiên cứu dịch tễ học của gan to. Chủ yếu là xét nghiệm ELISA để phát hiện các kháng thể lưu hành. Phương pháp này giúp phát hiện những động vật bị nhiễm bệnh trong giai đoạn trước khi trưởng thành, trước khi trứng được tiết ra, và khả năng kiểm tra số lượng lớn mẫu. Một số nhược điểm của phương pháp này là chi phí, thiết bị cần thiết, thiếu độ nhạy và sự tồn tại của kháng thể sau khi điều trị.

Chẩn đoán bằng phẫu thuật: Sự hiện diện của sán lá gan trong ống mật chủ, những tổn thương do sán non di chuyển là những tổn thương đặc trưng của bệnh sán lá gan lớn.

V. Điều trị

Từ lâu, người ta thường dùng các dẫn xuất hiđrocacbon với halogen để chữa bệnh sán lá gan. Tuy nhiên, những sản phẩm này tương đối độc hại và chúng chỉ ảnh hưởng đến sán trưởng thành. Để điều trị bệnh, bà con có thể tham khảo phác đồ điều trị sau:

Phác đồ 1: Sử dụng Detyl B với liều lượng 6 – 8 mg / kg thể trọng. lượng động vật. Tốt nhất cho trâu, bò uống vào buổi sáng. Sau khi uống rượu, chúng có thể đi chăn thả bình thường.

Phác đồ 2: Dùng Benvet 600, ngày 1 viên trắng cho khối lượng 60 kg. Uống vào lúc sáng sớm trước khi trâu, bò đi chăn thả.

Xem thêm:  Các Giống Bò Thịt Ở Việt Nam

Bên cạnh đó cần kết hợp với các loại thuốc bổ, vitamin, giải độc gan và dinh dưỡng tốt để vật nuôi nhanh chóng hồi phục.

VI. Phòng bệnh

Dùng thuốc diệt sán lá gan: Tẩy sán lá gan định kỳ khoảng 2-3 lần / năm. Vime – Fasci có thể được sử dụng 6 tháng một lần hoặc Vime Ono, 4 tháng một lần. Bò sữa nên tẩy vào thời điểm sữa cạn, trâu bò tẩy trong thời gian nghỉ việc, có thể vào tháng 4 hoặc tháng 8 hàng năm.

Ảnh hưởng đến ốc – ký chủ trung gian sử dụng thuốc diệt ốc, ở ruộng bùn lầy cần có dung dịch tiêu thoát nước. Có thể nuôi và bảo vệ các loài ốc ăn thịt (như vịt) hoặc các loài ốc không phải là ký chủ trung gian của bệnh sán lá nhưng đang cạnh tranh với các loài ký chủ trung gian. Để đạt được hiệu quả tốt nhất cần kết hợp với các biện pháp khác.

Biện pháp vệ sinh: Trước khi nhập gia súc mới phải kiểm tra phân, khu vực nhiễm bệnh nặng không chăn thả rông. Giảm hoặc hạn chế sự tiếp xúc giữa bò với kén và giữa phân với ốc. Thực hiện tốt vệ sinh chuồng trại, thức ăn, nước sạch. Cùng với đó, người chăn nuôi cần có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng cho đàn trâu, bò.

Viết một bình luận