Tình Hình Chăn Nuôi Lợn Ở Việt Nam Hiện Nay

– Lợn là hàng hóa chủ yếu trong chăn nuôi gia súc, có vai trò quan trọng trong nông nghiệp, có vai trò trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước. Thời gian qua, chăn nuôi lợn của Việt Nam gặp nhiều khó khăn, thách thức về dịch bệnh, thương mại… cần được nhận diện rõ để ngành thay đổi và phát triển bền vững!

Cơ hội phát triển chăn nuôi lợn hiện đại

Sau khi bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (ASF) xảy ra từ tháng 2/2019 đến nay, dịch tả lợn châu Phi đã lan rộng ra hầu khắp các tỉnh, thành trong cả nước (63/63 tỉnh, thành), nhiều trại lợn đã phải đóng cửa xuống nên số lượng lợn giảm. Theo Cục Thú y, từ đầu tháng 2/2019 đến ngày 10/9/2019, dịch cúm gia cầm xảy ra tại 7.459 xã thuộc 639 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn bị tiêu hủy là 4.907.107 con; với tổng trọng lượng 282.426 tấn (chiếm 7% tổng trọng lượng thịt lợn cả nước).

Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Văn Trọng – Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, chăn nuôi lợn trong những năm tới sẽ có nhiều cơ hội để phát triển công nghiệp và ứng dụng khoa học. Và công nghệ. Cụ thể, nhu cầu tiêu thụ thịt trong nước ngày càng tăng, với thị trường hơn 97 triệu dân và khoảng 15 triệu khách du lịch, thịt lợn được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Rất lớn, giá tiêu thụ cao. Cùng với đó, thịt lợn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu tiêu dùng của người Việt.

Tình Hình Chăn Nuôi Lợn Ở Việt Nam Hiện Nay
Tình Hình Chăn Nuôi Lợn Ở Việt Nam Hiện Nay

Việt Nam sở hữu những giống lợn năng suất và chất lượng cao. Có một số giống năng suất cao nhất trên thế giới. Cơ cấu giống lợn hiện nay đã thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng lợn nái ngoại từ 19,8% (2013) lên 20,4% (2014) và đạt 22,4% (2015); Cả nước có khoảng 127.642 nái ông bà lai Landrace, Yorkshire, Duroc và một số ít giống Pietrain để sản xuất tôm bố mẹ (PS) từ các tổ hợp lai giữa giống nhập nội và các giống khác. Sự kết hợp lai giữa giống lợn nội Việt Nam với giống lợn nhập ngoại với tổng đàn lợn nái bố mẹ chiếm khoảng 60% tổng đàn lợn nái của cả nước (3,2 triệu con – theo TCTK 01/7/2019).

Ngoài ra, việc tiếp cận và tham gia các tổ chức quốc tế, các hiệp định song phương và đa phương, các hiệp định thương mại tự do đã được đẩy mạnh. Tác động mạnh đến năng lực sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi. Công tác quản lý con giống, thức ăn chăn nuôi được tăng cường, Luật Chăn nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chăn nuôi có hiệu lực từ năm 2020, việc chăn nuôi có điều kiện đạt hiệu quả cao.

Xem thêm:  Tuổi Giáp Tý Nên Nuôi Cá Gì

Ngành chăn nuôi lợn cần được tái cơ cấu để phát triển

Những điểm yếu không dễ khắc phục…

Đối với ngành Chăn nuôi lợn ở Việt Nam hiện nay, dịch bệnh vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Thời gian qua, dịch bệnh ASF đã khiến ngành chăn nuôi lợn nước ta lao đao với những thiệt hại chưa từng có, ảnh hưởng đến an ninh lương thực, kinh tế, xã hội và môi trường…

Trong thời gian tới, theo đến ông Nguyễn Văn Long, Phó Cục trưởng Cục Thú y, do chưa có thuốc chữa và vắc xin phòng bệnh; vi rút sống lâu trong môi trường, có sức đề kháng rất cao, đường lây truyền đa dạng, khó kiểm soát; chăn nuôi nông hộ, quy mô nhỏ, mật độ dày, khó thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Do đó, trong thời gian tới, nguy cơ dịch bệnh ASF sẽ tiếp tục phát sinh và lây lan theo 3 hướng: Lây lan nhanh sang các vùng chưa có dịch; Tái phát trong các ổ dịch cũ đã qua 30 ngày; Có khả năng lây nhiễm sang các trang trại chăn nuôi lợn quy mô lớn, quy mô lớn…

Thời gian qua, dịch cúm gia cầm bùng phát mạnh do chăn nuôi quy mô lớn. quy mô nhỏ, tận dụng, kém an toàn sinh học và đây cũng là những điểm yếu của ngành chăn nuôi lợn hiện nay. Cụ thể, năm 2018, số hộ chăn nuôi lợn tiếp tục giảm (giảm 3,9%) so với năm 2017 và chiếm 99,61% tổng số trang trại chăn nuôi lợn của cả nước, tuy nhiên với tổng số hộ chăn nuôi lợn. Chăn nuôi lợn vẫn còn lớn, lên tới 2,5 triệu hộ với tổng đàn 13,9 triệu con.

Một điểm yếu nữa của ngành chăn nuôi lợn là năng suất. nuôi trồng thấp, chi phí còn cao. Điều này phần lớn là do công việc chăn nuôi. Theo nhiều chuyên gia, việc quản lý giống vật nuôi còn nhiều bất cập. Bất cứ ai cũng có thể nhân giống và tiếp thị chúng. Con giống kém chất lượng nên năng suất thấp.

Khi giá lợn cao, lợn cái vẫn phối giống thành lợn nái sinh sản. Điều đó hoàn toàn sai lầm và dẫn đến năng suất thấp. Ở nước ngoài, chăn nuôi lợn đã đạt 28-30 con cai sữa / nái / năm nhưng ở Việt Nam mới đạt 20-22 con, bằng 70%. Nói như vậy không phải cái gì cũng xấu, ở các trang trại chăn nuôi, đặc biệt là các trang trại gia công cho các công ty lớn thì năng suất cũng khá. Số lượng vật nuôi kém năng suất vẫn kéo năng suất chung đi xuống, đặc biệt là các giống vật nuôi trong nước và lai tạo còn khá nhiều. Một điều nữa là môi trường chăn nuôi hiện nay quá ô nhiễm nên năng suất chăn nuôi thấp.

Cùng với đó, nguyên liệu đầu vào cũng giống như công thức. Thức ăn, thuốc thú y vẫn ở mức cao, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm chăn nuôi… Trước khi bùng phát ASF, giá lợn hơi khu vực trang trại, nông hộ từ 35.000 đồng-38.000 đồng / kg, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài khoảng 32.000 -34.000đ / kg. Tuy nhiên, theo đánh giá, khi có ASF, giá thành lợn hơi ở nước ta tăng cao, do chi phí sát trùng chuồng trại, chế phẩm tăng cường sức đề kháng cũng như hàng loạt chi phí kiểm dịch khác…

Xem thêm:  Cho Lợn Ăn Bao Nhiêu Là Hợp Lý

Cùng với đó, ngành chăn nuôi còn thiếu sự liên kết trong tổ chức sản xuất giống và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi. Cụ thể, năm 2018, cả nước có 3.010 trang trại chăn nuôi lợn chế biến, chiếm 30,8% tổng số trang trại chăn nuôi lợn cả nước với tổng đàn 4,3 triệu con, chiếm tỷ lệ 15,2. % tổng đàn lợn của cả nước; 219 hộ chăn nuôi lợn gia công với tổng đàn 192,5 nghìn con. Số chuỗi liên kết khép kín trong chăn nuôi lợn của cả nước là 171 chuỗi với tổng đàn 988.701 con, chiếm 3,5% tổng đàn lợn cả nước, bình quân 5.782 con / chuỗi.

Một điều nữa là việc giá cả các sản phẩm chăn nuôi lên xuống thất thường đã ảnh hưởng đến tâm lý người chăn nuôi, thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi không ổn định, từ cuối năm 2016 đến nay. của quý III / 2017, thời kỳ chăn nuôi lợn thua lỗ lớn, khủng hoảng giá quá thấp và kéo dài, gây thiệt hại hơn 100 nghìn tỷ đồng. Đây là bài học đắt giá cho cả cơ quan quản lý nhà nước và người chăn nuôi lợn; bài học về quy hoạch phát triển, quan hệ cung cầu, phát triển thị trường, tăng năng suất thay vì tăng số lượng; về tăng cường chế biến giết mổ và bảo quản đông lạnh, thống kê…

Ngoài ra, ngành chăn nuôi lợn còn gặp hàng loạt khó khăn khác là người chăn nuôi. thiếu vốn và quỹ đất để đầu tư phát triển trang trại chăn nuôi; Suy thoái kinh tế ảnh hưởng đến tiêu thụ và giá cả sản phẩm, hiệu quả chăn nuôi thấp, nhiều cơ sở chăn nuôi thua lỗ kéo dài; Biến đổi khí hậu hàng ngày, hàng giờ đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng… tất cả những điều này đang thách thức ngành chăn nuôi lợn…

Ngành chăn nuôi lợn tương lai: Trò chơi của những người chuyên nghiệp thực sự

Theo các chuyên gia trong ngành, trong trò chơi hiện tại và tương lai khi sống với ASF, có lẽ chỉ những nhà chăn nuôi thực sự chuyên nghiệp mới có nguồn lực, phương tiện, kiến ​​thức và kinh nghiệm để tiếp tục. ASF là cơ hội để tái cơ cấu ngành chăn nuôi. Chăn nuôi nhỏ lẻ, chộp giật sẽ bị thu hẹp. Tương lai và cơ hội cho các nhà chăn nuôi lớn, chuyên nghiệp sẽ mở ra.

Xem thêm:  Hướng Sản Xuất Của Lợn Móng Cái

Và để có thể tiếp tục, theo Cục Chăn nuôi, ngành chăn nuôi lợn sẽ làm được. từng bước chuyển dịch cơ cấu ngành nghề cụ thể: Phát huy lợi thế về khả năng sản xuất một số giống lợn nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng; phát triển bền vững góp phần đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường. Chăn nuôi lợn cần chuyển dần từ chăn nuôi nông hộ sang chăn nuôi nông hộ.

Xác định quy mô trang trại phù hợp với từng vùng, địa phương. Tổ chức lại sản xuất, phần lớn là chăn nuôi lợn trang trại, công nghiệp, chăn nuôi ATSH, chăn nuôi hữu cơ, chăn nuôi vùng an toàn dịch bệnh theo chuỗi liên kết, bao gồm các chuỗi: công nghiệp – Trang trại gia công; Doanh nghiệp – Hợp tác xã – Nông dân. Ưu tiên phát triển chăn nuôi bền vững theo hướng an toàn sinh học, bổ sung chế phẩm gắn với sản xuất theo chuỗi sản phẩm, đặc biệt chú trọng khâu giết mổ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, xây dựng thương hiệu…

Nội tâm

ÔNG. PHÙNG ĐỨC TIẾN – THỨ TRƯỞNG BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN: MÔI TRƯỜNG AN TOÀN VÀ AN TOÀN SINH HỌC PHÁT TRIỂN RỪNG

Trong số 5,36 triệu tấn thịt nói chung Thịt lợn chiếm khoảng 72% nên nếu không có kế hoạch tái cơ cấu sản xuất thì cuối năm sẽ thiếu thịt. Nhìn lại bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (ASF), sản lượng thịt giảm 7%, nhưng cũng

7 tháng qua xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi lợn an toàn. sinh học cần được nhân rộng. Điển hình như Tập đoàn Quế Lâm, 15 mô hình nuôi 2.100 con lợn, phát triển bình thường trong khi xung quanh vẫn bùng phát dịch bệnh; Chất lượng thịt tốt, môi trường tốt và tăng trọng nhanh. Hay như mô hình của Amavet; Phân viện Chăn nuôi Miền Nam với hơn 5000 con lợn đã tổ chức thực hiện tốt công tác An toàn sinh học ngay từ ngày đầu tiên mặc dù xung quanh khu vực có dịch bệnh nghiêm trọng. Hiện đối với các doanh nghiệp chăn nuôi lợn vẫn đảm bảo an toàn sinh học. Dựa trên mô hình khoa học và thực tiễn đã triển khai, chúng tôi khẳng định rằng Bằng cách thực hiện tốt an toàn sinh học, chúng tôi có thể kiểm soát ASF; cùng với đó, mạnh dạn tin tưởng và ứng dụng các chế phẩm vi sinh đã được Cục Thú y, Cục Chăn nuôi khuyến cáo và khuyến khích áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi. Tôi tin rằng các Sở NN & PTNT có đủ tự tin và bản lĩnh để phát triển chăn nuôi lợn an toàn sinh học.

Về Kim Chung

Xin chào, Mình là Chung. Hi vọng rằng với những nội dung chia sẻ về Trồng trọt, chăn nuôi và làm vườn sẽ giúp các bạn phát triển nông nghiệp tốt nhất.

Viết một bình luận