Tình Hình Chăn Nuôi Bò Thịt Ở Việt Nam

– Bò là vật nuôi gắn bó thân thiết với người nông dân Việt Nam từ xa xưa thời điểm hiện tại. Nuôi bò không chỉ cung cấp thịt, sức kéo, phân bón mà còn cung cấp nguyên liệu cho một số nghề thủ công. Đẩy mạnh chăn nuôi bò thịt thực chất là tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện điều kiện sống cho người chăn nuôi, cùng với việc cung cấp thịt để đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng cao của người tiêu dùng. Bài báo này đề cập đến những thăng trầm của ngành chăn nuôi gia súc.

Ở nước ta, lượng trâu, bò, dê giống cung cấp cho thị trường trong nước những năm gần đây chỉ chiếm 7-9%.

Tình Hình Chăn Nuôi Bò Thịt Ở Việt Nam
Tình Hình Chăn Nuôi Bò Thịt Ở Việt Nam

I. Đặt vấn đề

Bò là vật nuôi gắn bó thân thiết với người nông dân Việt Nam từ xưa đến nay. Nuôi bò không chỉ cung cấp thịt, sức kéo, phân bón mà còn cung cấp nguyên liệu cho một số nghề thủ công. Đẩy mạnh chăn nuôi bò thịt thực chất là tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người chăn nuôi, cùng với đó là cung cấp thịt để đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng cao của người tiêu dùng. Bài viết này bàn về những thăng trầm của ngành chăn nuôi bò thịt, trong đó đề cập đến công tác cải tạo giống, chăn nuôi bò lai hướng thịt và khả năng cung cấp thịt cho thị trường trong nước. Theo thống kê của FAO, năm 2012, 2013, tỷ lệ tiêu thụ thịt trên thế giới như sau: thịt lợn trên 40%, thịt gia cầm gần 30%, thịt trâu, bò, dê, cừu, hươu, ngựa 25 – 28%, các còn lại khoảng 1% là thịt của các động vật khác (Cục Chăn nuôi, 2014).

Ở nước ta, lượng trâu, bò, dê cung cấp ra thị trường trong nước những năm gần đây chỉ chiếm 7-9%. Cụ thể, năm 2013 là 8,85%, năm 2014 là 8,72% và năm 2015 là 8,54%. Tiêu thụ thịt bò chỉ chiếm 6,47% năm 2013, 6,38% năm 2014 và 6,25% năm 2015 (TCTK, ngày 1 tháng 10 năm 2015). Do nguồn cung thịt trâu, dê, cừu trong nước không đủ (chỉ nói số lượng, chưa nói đến chất lượng) nên một lượng bò, bò nguyên liệu được nhập khẩu để giết mổ và một lượng thịt tinh, thịt có xương. được nhập khẩu để đảm bảo lượng thịt này cung cấp cho thị trường tiêu thụ trong nước. Năm 2015, nhập khẩu 419.952 con bò hơi, trâu, bò không xương là 854 tấn, thịt bò có xương là 4.845 tấn và thịt dê, cừu là 890 tấn (báo cáo TCHQ, 1/2016).

II. Số lượng bò từ năm 2010 – 2015

Đàn bò của nước ta năm 2001 có 3.8997 triệu con. Đàn bò không ngừng tăng lên, đạt 6.7247 triệu con năm 2007. Sự gia tăng không ngừng này đã ghi dấu ấn trong chiến lược phát triển chăn nuôi Việt Nam đến năm 2020 được Chính phủ phê duyệt ngày 16/01/2008 (Quyết định số 10/2008 / QĐ-TTg) . Trong chiến lược, mục tiêu tăng trưởng đàn bò bình quân hàng năm là 4,8% và đạt 12,5 triệu con, trong đó tỷ lệ bò lai là 50% vào năm 2020

Do một số thay đổi về chính sách, đất được giao cho các công ty hoặc tư nhân và các hộ gia đình quản lý. . Diện tích mặt bằng chăn nuôi bị thu hẹp, thậm chí không có bãi chăn nuôi chung, tỷ lệ sinh sản của bò giảm, chăn nuôi bò không hấp dẫn bằng chăn nuôi lợn, gia cầm. Vì vậy, đàn bò không những không phát triển mà ngày càng giảm sút. Sự sụt giảm này bắt đầu từ vụ thu đông năm 2008, đó là mùa rét năm 2008 đã làm chết hơn 210.000 con trâu, bò, bê, nghé (Cục Chăn nuôi, 2008, 2009).

Xem thêm:  Bệnh Tụ Huyết Trùng Trâu Bò

Theo số liệu ngày 01 tháng 10 năm 2008 và năm 2009 của Tổng cục Thống kê , đàn bò của chúng tôi lúc bấy giờ chỉ mang tính chất tương đối. lần lượt là 6,3377 và 6,1033 triệu đồng. Như vậy, từ năm 2010 đến 2013, đàn bò Việt Nam liên tục giảm. Từ 5,916 triệu con năm 2010 lên 5,156 triệu con năm 2013. Năm 2014, do nhu cầu tiêu thụ thịt bò tăng nhanh, giá thịt bò tăng cao so với giá thịt các loại nên người chăn nuôi đã đầu tư chăn nuôi. tăng. Năm 2014, đàn bò là 5,234 triệu con, tăng lên và đạt 5,367 triệu con vào năm 2015. Việc tăng, giảm đàn bò ở các vùng sinh thái không làm thay đổi cơ cấu đàn bò các vùng. Vùng chăn nuôi bò nhiều nhất ở nước ta là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, tỷ lệ bò của vùng này luôn chiếm khoảng 40% đàn bò cả nước. Đứng thứ hai là vùng Trung du và miền núi phía Bắc, vùng này luôn chiếm tỷ trọng trên 17% đàn bò của cả nước. Vùng có tỷ trọng đàn bò thấp so với cả nước là Đông Nam Bộ, đàn bò chỉ chiếm khoảng 7%. Các vùng còn lại: Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ đàn bò gần như tương đương, 11-13% tổng đàn bò của cả nước.

Năm tỉnh nuôi bò nhiều nhất và luôn giữ vị trí ổn định là: Nghệ An, Gia Lai, Quảng Ngãi, Bình Định, Thanh Hóa.

Bảng 1: Số liệu đàn bò lai Việt Nam từ năm 2010 – 2015 (Tổng cục TKCN, ngày 01 tháng 10 hàng năm)

Địa phương 2010 2011 2012 2013 2014 Năm 2015
Toàn quốc

– (con)

-%

2.204.047

37.25

2.268.635

41.73

2.295.264

44.19

2.455.294

47,61

2.717.986

51,92

3.040.577

56,65

Màu đỏ riv er delta

– (con)

-%

424.419

64,22

399,914

66,28

371.180

71.77

341.212

68.72

366.941

74,48

387.971

78.11

MN & TD Miền Bắc

– (đứa trẻ)

-%

141.931

13,62

124.458

13,47

140.822

15,57

154.537

17,23

162,694

17,90

180.494

19.14

Duyên hải Bắc Trung Bộ & Môi trường Giáo dục

– (đứa trẻ)

-%

825.820

34,52

812.959

37,90

873.548

41,53

965.632

46.14

1.039.834

49.06

1131.671

51.78

Tây Nguyên

– (đứa trẻ)

-%

119.418

17.19

119.842

17,39

136.727

20.80

153.762

23,20

194,734

28,91

287.995

42.01

Đ. Miền Nam

– (con)

-%

273.489

62,22

339.322

82.99

322,936

84,43

323.118

88.55

333.884

92,41

348.702

94.98

Bởi Cửu Long

– (đứa trẻ)

-%

418,970

60,62

472.140

70,92

450.051

71,54

517.033

80,30

619.899

91.45

689.011

97,91

Bảng 2: Số lượng thịt bò hơi xuất chuồng trong năm

T. Nguyên – SLG thịt (con) – Số lượng thịt (tấn) – KL.TB / chiếc (kg)

214.102

32.615

152,33

219.406

32.524

148,24

211.219

32.607

154.322

194.690

29.385

150,93

193.634

34.469

178.01

190.132

36.366

191,27

NE – SLG thịt (con) – Số lượng thịt (tấn) – KL.TB / kiện (kg)

178.797

32.487

181.70

182.111

33.072

181,60

168.266

32.989

196.05

161.369

29. 960

185,66

Xem thêm:  Bệnh Hô Hấp Phức Hợp Trên Heo

105.613

24.172

228.87

109.908

24.265

220.78

Địa phương 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Ghi chú
T. Quốc

– SLG thịt (con)

– Lượng thịt (tấn)

– KL.TB / con (kg)

1.819.756

278,911

153,27

1.848.379

287.169

155,36

1.866.232

293.639

157,34

1.769.434

285.408

161,30

1.537.714

292.901

190.48

1.567. 420

299.324

190,97

ĐB. SH

– SLG thịt (con)

– Số lượng thịt (tấn)

– KL.TB / đơn vị (kg)

204.070

29.486

144,49

213.040

31.046

145,73

209.155

31,946

152,74

209.335

33.818

161.55

163.630

33.340

203,75

162.536

32.995

203,00

MN & TD

– SLG thịt (con)

– SL thịt (tấn)

– KL.TB / chiếc (kg)

184.096

25.920

140,80

201.287

28.881

143,48

198.732

28.628

144.05

185.271

28.426

153,44

170.983

30.104

176.06

169.821

30.363

178,79

Duyên hải Bắc Trung bộ & Giáo dục môi trường

– SLG thịt (con)

– Số lượng thịt (tấn)

– KL.TB / chiếc (kg)

744.619

114.313

153.52

736.561

116.475

158,13

787.662

121.196

153,87

729.974

117,302

160,69

668.507

126.093

188,62

681.167

128.687

188, 92

NE-SCL – Số lượng thịt (con)

– Số lượng thịt (tấn)

– Khối lượng / con (kg)

294.073

44.090

149,93

295.974

45.173

152,62

291.198

46.603

160.04

288.849

46.517

161.04

235.347

44.721

190.02

254.856

46.648

183.04

III. Số bò lai trong đàn bò

Bò lai ở đây chỉ bò lai Sind theo chương trình Sind hóa trước đây và Zebu hiện tại.

Từ số liệu trong Bảng 1, chúng ta có thể thấy:

– Đàn bò lai ở nước ta trong những năm gần đây phát triển khá nhanh, tỷ lệ bò lai đàn bò đạt: 56,65% trong tổng đàn bò theo thống kê ngày 01/10/2015 mặc dù trong Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 chỉ đưa ra 50%. Nhìn lại quá trình phát triển, tỷ lệ đàn bò lai cả nước năm 1995 mới đạt 12%, năm 1998 là 25%, năm 2005 là 30% (Cục Chăn nuôi, 2006), đến năm 2010 là 37,25%. 25,25% tỷ trọng bò lai tăng trong giai đoạn này (1995-2010) bên cạnh sự hỗ trợ của các Dự án Chương trình (Dự án Ngân hàng Thế giới 1995-1998, Dự án cải tạo đàn bò theo hướng Zebu hóa, Dự án, Chương trình phát triển thịt bò trong nước từ năm 2000 -2010) vẫn có sự chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền địa phương, đội ngũ cán bộ kỹ thuật từ trung ương đến địa phương và người chăn nuôi. Tốc độ tăng trưởng rất nhanh của đàn bò lai 19,40% chỉ trong 5 năm 2011-2016 là minh chứng rất thuyết phục từ hiệu quả của các chương trình cải tạo bò thịt, chương trình phát triển chăn nuôi bò thịt trong nước, mặc dù 5 năm qua không có sự hỗ trợ của các dự án chính phủ. hoặc các chương trình. Bò lai, chương trình cải tạo đàn bò theo hướng Zebu hóa và phát triển thịt bò được người chăn nuôi ủng hộ cao.

– Tỷ lệ con lai cao nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là vùng có tốc độ phát triển đàn bò lai nhanh nhất, bao gồm Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng. Năm 2010, tỷ lệ bò lai của vùng này chỉ đạt 60,62%, trong khi Đông Nam Bộ là 62,22% và Đồng bằng sông. VND là 64,22%. Tính đến nay, năm 2015, tỷ lệ bò lai của vùng này là 97,91%, trong khi ở vùng Đông Nam Bộ là 94,98%, vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 78,11%, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là 51%. 78%. Tỷ lệ bò lai thấp nhất ở miền núi và trung du phía Bắc 19,14%, tiếp đến là Tây Nguyên 42,01%. Tốc độ sinh trưởng của bò lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tập quán chăn nuôi. , nhận thức của người sản xuất, điều kiện môi trường kỹ thuật và các yếu tố xã hội khác. Hồ Chí Minh, tỷ lệ bò lai đã đạt 100% tổng đàn bò từ năm 2011, dù trước đó, năm 2010, tỷ lệ này chỉ là 24,13% (số liệu ngày 1-10-2010 và 1-10-2011 -CTK). Nhiều tỉnh có tỷ lệ bò lai cao trên 70% như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hà Nam, Tây Ninh, Hậu Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Long An, Binh Duong. Trung du miền núi phía Bắc tỷ lệ bò lai thấp nhất, tỉnh Hà Giang đến nay (2015) tỷ lệ bò lai chưa đạt 1%, Điện Biên đạt gần 10%.

Xem thêm:  Cách Ủ Thức Ăn Cho Bò

IV. Khả năng sản xuất thịt của đàn bò Việt Nam

Khả năng hiến thịt của bò Việt Nam không cao do:

– Tầm vóc nhỏ, chậm lớn, trọng lượng khi trưởng thành theo các tài liệu điều tra, báo cáo trong hội nghị phát triển bò thịt (hội nghị phát triển bò thịt, 2008) đề cập khi trưởng thành chỉ đạt 140 – 200 kg tùy theo vùng và giới tính;

– Thịt bò Việt Nam là thịt bò đa dụng, nông dân Việt Nam không có thói quen vỗ béo bò trước khi giết thịt nên chất lượng thịt không cao, thịt dai.

– Trọng lượng trung bình của gia súc sống giết mổ không cao, dao động từ 140-220 kg / con.

– Trọng lượng bò thịt hơi xuất chuồng ở Đông Nam Bộ cao nhất , từ 180 – 220 kg; Khối lượng này thấp nhất ở vùng núi và trung du phía Bắc, dao động từ 140 – 178 kg. Khối lượng bò hơi xuất chuồng nêu trên cũng phản ánh phần nào tập quán, môi trường, điều kiện và tỷ lệ bò lai có mặt trong đàn bò của các vùng.

– Sản lượng bò thịt hơi xuất chuồng năm 2014 và 2015 cao hơn so với những năm trước, giải thích: (1) Tỷ lệ bò lai hai năm này tăng, bò lai tăng, sản lượng giết mổ sẽ tăng. (2) Trong hai năm qua, thịt bò tươi được nhập khẩu từ Úc, Thái Lan vào Việt Nam với mục đích giết mổ. Sau thời gian nhập khẩu (2 – 6 tháng), số bò trên sẽ được giết mổ để tiêu thụ trong nước.

V. Kết luận

– Đàn bò Việt Nam phát triển chưa ổn định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tỷ lệ bò lai trong đàn bò ngày càng cao. Lai theo hướng Zêbu hóa, tạo đàn bò lai theo hướng thịt là xu hướng nâng cao tầm vóc và khả năng chăn nuôi của đàn bò Việt Nam.

– Khả năng cung cấp thịt của đàn bò Việt Nam thấp do quá nhỏ tầm vóc, sinh trưởng và phát triển thấp, khối lượng thấp khi trưởng thành, 150 – 220 kg.

– Tập huấn nhận thức, kết luận Phổ biến các biện pháp kỹ thuật áp dụng cho nông dân nhanh nhất và hiệu quả nhất để nâng cao số lượng và chất lượng đàn bò Việt Nam.

PGS.TS Hoàng Kim Giao

Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Gia súc lớn

Nguyên Giám đốc Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

Viết một bình luận