Thị Trường Thịt Bò Tại Việt Nam

– Khi dịch tả lợn Châu Phi xảy ra là trở ngại lớn cho việc tái đàn và phát triển đàn lợn ở ở nước ta, chăn nuôi bò thịt là hướng tổng hợp nhất có thể giải quyết đồng thời nhiều vấn đề trong đời sống của người chăn nuôi.Chăn nuôi bò không chỉ cung cấp thịt, sức kéo, phân bón mà còn cung cấp nguyên liệu cho một số ngành tiểu thủ công nghiệp. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đại gia súc thực chất là tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người chăn nuôi, cùng với đó là cung cấp thịt để đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng cao của người tiêu dùng. Đặc biệt khi dịch tả lợn Châu Phi đang là trở ngại lớn cho việc tái đàn và phát triển đàn lợn ở nước ta thì chăn nuôi bò thịt là hướng đi tổng hợp nhất có thể giải quyết đồng thời nhiều vấn đề trong đời sống của người chăn nuôi. cho ăn. Bài viết này trình bày những suy nghĩ về tình hình phát triển đàn bò thịt của cả nước trong thời gian qua và những năm tới đồng thời nêu ra những bước phát triển chăn nuôi bò thịt trong thời gian tới.

Phát triển đàn bò từ năm 201 4 đến 2019

Theo số liệu của TCTK, đàn bò nước ta ở Năm 2001 với 3,8997 triệu con, đàn bò tăng liên tục trong những năm sau đó và đạt 6,7247 triệu con vào năm 2007. Sự gia tăng liên tục này đã ghi một dấu ấn trong chiến lược phát triển chăn nuôi Việt Nam đến năm 2020 được Chính phủ phê duyệt ngày 16/1. 2008 (Quyết định số 10/2008 / QĐ-TTg).

Thị Trường Thịt Bò Tại Việt Nam
Thị Trường Thịt Bò Tại Việt Nam

Do một số thay đổi về chính sách, đất được giao cho Công ty hoặc hộ tư nhân, hộ gia đình sử dụng và quản lý nên diện tích trồng cỏ, diện tích của Đồng cỏ chăn thả chật hẹp, thậm chí không có bãi chăn nuôi chung nên tỷ lệ sinh sản của bò giảm. Thời điểm này không hấp dẫn bằng chăn nuôi lợn, gia cầm nên đàn bò không những không tăng trưởng mà còn giảm liên tục từ năm 2008 – 2013, đàn bò chỉ còn 5.156.727 con (TCTK, 2008 – 2014). Trong các năm 2013, 2014, 2015 và các năm tiếp theo, nhu cầu tiêu thụ thịt bò tăng mạnh, nước ta phải nhập một lượng lớn bò hơi từ Úc, Thái Lan, Lào, Cam Phu Chia để giết thịt cung cấp cho người tiêu dùng. trong nước (Năm 2015, nhập khẩu 419.952 con trâu, bò hơi, thịt trâu bò rút xương 854 tấn, thịt trâu, bò 4.845 tấn, TCHQ, tháng 1/2016). Thời điểm này, người chăn nuôi quay lại đầu tư, quan tâm phát triển đàn bò và cũng từ năm 2014 đến nay, năm 2020 đàn bò không ngừng tăng lên. Năm 2014, đàn bò cả nước là 5.234.298 con, đến nay đạt 6.060.024 con (TCTK. 01.01.2020). Dữ liệu về số lượng bò được thể hiện trong Bảng 1 dưới đây.

  • Theo TCTK, 01.01.2020

Như vậy, từ năm 2014 đến 2019, đàn bò Việt Nam liên tục tăng. Việc tăng, giảm đàn bò ở các vùng sinh thái khác nhau ít ảnh hưởng đến cơ cấu đàn bò nội ở các vùng khác nhau. Vùng chăn nuôi bò nhiều nhất nước ta là vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ, tỷ lệ đàn bò của vùng này luôn chiếm khoảng 40% (39,28-40,77%) tổng đàn bò cả nước. Khu vực xếp thứ hai là miền Bắc Ở Miền núi và Trung du, đàn bò của vùng này luôn chiếm trên 17% (17,38 – 17,85%) tổng đàn bò cả nước. Vùng có tỷ trọng đàn bò thấp so với cả nước là Đông Nam Bộ, đàn bò chỉ chiếm 6,81 – 6,94% và vùng Đồng bằng sông Hồng, đàn bò chiếm 8,19 – 9,41% tổng đàn. . bò trong nước. Các vùng còn lại: Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, tỷ trọng đàn bò gần như nhau, chiếm 12,77 – 14,02% đàn bò cả nước.

Theo thống kê, hai tỉnh có số lượng đàn gia súc nhiều nhất và luôn chiếm vị trí ổn định số 1 và số 2 là Nghệ An và Gia Lai. Các số thứ tự 3, 4, 5, 6 còn lại là Quảng Ngãi, Bình Định, Thanh Hóa và Sơn La, nhưng năm 2017, thứ tự các tỉnh này có sự thay đổi, theo Bảng 2 dưới đây.

Qua Bảng 2, ta thấy:

– Trong sáu năm qua, từ 2014 đến 2019, 6 tỉnh nói trên vẫn là 6 tỉnh có số lượng đàn bò nhiều nhất so với cả nước. Số lượng đàn bò của các tỉnh trên đều tăng trưởng qua các năm, trừ tỉnh Quảng Ngãi, số lượng đầu bò tăng và giảm nhẹ.

– Trat Tự xếp hạng khác nhau giữa các tỉnh dựa trên số lượng bò có mặt tại thời điểm thống kê. Sự thay đổi này phản ánh chính sách của tỉnh, điều kiện môi trường chăn nuôi của các tỉnh đó.

– Số trong ngoặc là số thứ tự, lấy làm mốc. từ năm 2014.

T. Đặt hàng Địa phương 2014 2015 2016 2017 2018 2019
Đầu tiên Quốc gia 5.234.298 5.367.078 5.496.557 5,654.901 5.802.907 6.060.024
2 Nghệ An 391.190 412.782 426.422 434.658 (1) 450.389 (1 ) 471.904 (1)
3 Gia Lai 355.050 357.875 375,948 390.000 (2) 384.652 (2) 395.051 (2)
4 Quảng Ngãi 274.318 278.883 277.101 277.350 (4) 277.797 (4) 277.333 (4)
5 Bình Định 252.441 266.031 271.713 284.717 (3) 290.584 (3) 292.525 (3)
6 Thanh Hoa 216.039 224.063 231.026 233.804 (6) 247.947 (6) 256.440 (6)
7 Sơn La 205.165 217.340 225.556 238.549 (5) 252.149 (5) 283.723 (5)
Xem thêm:  Bệnh Lở Mồm Lông Móng Ở Lợn

Bảng 2: Số lượng đàn bò của 6 tỉnh chăn nuôi nhiều, 2014 – 2019, TCTK, 01/01/2020.

Số lượng đàn Bò lai ở Bò

Trước khi nói về số lượng bò lai ở nước ta, người chăn nuôi phải biết rằng: Có nhiều giống bò thịt. Bò thịt ôn đới, ôn đới, các giống bò thịt nổi tiếng trên thế giới đã có mặt ở nước ta, bao gồm cả giống và tinh đông lạnh nhập nội, chủ yếu là tinh đông lạnh (hình ảnh các giống bò thịt dưới đây). . Sự phát triển đàn bò lai ở nước ta không giống nhau qua các giai đoạn phát triển của đất nước và phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

Để phát triển thịt bò đàn gia súc cần nhiều giải pháp căn cơ (Ảnh: Trần Ngân)

1. Đầu thế kỷ 20 đến năm 1954

Cũng giống như Sind hay Redsindhi, Ongle du nhập vào nước ta từ những năm 20, 30 của thế kỷ 20; Sau đó Sahiwal, Thapara, Haryanan cũng được nhập khẩu vào những năm 30, 40 của thế kỷ 20. Các giống này sáp nhập với mục tiêu sản xuất sữa, sau đó lai giữa các giống trên và giữa các giống. Đây là giống bò vàng của Việt Nam. Các giống lai nói trên được dùng để sản xuất sữa cho người Pháp và những người giàu có ở thành thị. Chúng được nuôi trên các đồn điền hoặc ven thành phố.

2. Giai đoạn sau năm 1954 đến năm 1975

Qua một thời gian dài, các giống chó trên được nhập vào Việt Nam, xung quanh các nơi nuôi , đã xuất hiện bò lai giữa các giống bò này với bò vàng của Việt Nam. Việc lai tạo và lai tạp xuất hiện một cách tự phát, lẻ tẻ và thường chỉ giới hạn trong một khu vực nhỏ, xung quanh các đồn điền và trang trại cũ. Theo dõi thực tế đàn bò lai, kết hợp với nghiên cứu, thử nghiệm, Viện Chăn nuôi đã đưa ra kết luận đánh giá về đàn bò lai. Các giống bò lai này, đặc biệt là bò lai Sind, có tầm vóc, khả năng cày kéo và sản lượng thịt vượt trội. Sau khi tổng kết, đánh giá hiệu quả chăn nuôi của các con lai, ngành chăn nuôi đã phát động phong trào “Sim hóa”, “U hóa” và đến nay là “ZEBU hóa” đàn bò trong nước. đồng thời phục vụ phát triển đàn bò sữa và bò thịt nội địa. Mục tiêu của các phong trào trên là nâng cao đàn bò nội của Việt Nam bằng các giống bò U (Redsindhi, Sahiwal và Brahman) để nâng cao tầm vóc, khả năng sản xuất thịt và sữa. Trên cơ sở đàn bò lai cải tiến sẽ đi theo 2 hướng (-) Hướng sữa: Sử dụng tinh bò Holstein Frisian kết hợp với bò cái cải tiến để tạo ra con lai F1, F2, F3…. (-) Hướng thịt: Sử dụng tinh của các giống bò thịt nhiệt đới và ôn đới kết hợp với bò cải tạo con lai nuôi lấy thịt. Tuy nhiên, trên thực tế, phong trào trên vẫn chưa được triển khai nhiều, rộng rãi trong giai đoạn này.

3. Từ năm 1975 đến năm 2000

Sau khi thống nhất, được sự giúp đỡ của Chính phủ CuBa, Trung tâm Moncada giống bò đực giống và sản xuất tinh bò đông lạnh đã được được xây dựng. Kết hợp với việc nhập thêm các giống bò Red Sindhi, Sahiwal từ Pakistan, giống Brahman từ Cu Ba, phong trào cải tạo giống bò nội được triển khai trên phạm vi toàn quốc. tiến hành thăm dò để lai tạo giữa các con lai cải tiến với các giống bò chuyên thịt như Charolais, Santa Gertrudis và Limousine. Việc nghiên cứu con lai với các giống bò siêu thịt ở mức độ sâu và rộng hơn trên cơ sở thực hiện đề tài cấp nhà nước KN02 do GS. Nguyễn Văn Thường chủ trì; Dự án UNDP VIE / 86/008 và sau đó là Dự án Khôi phục Nông nghiệp – Cr.256 – VN với chương trình cải tạo đàn bò trong nước (1995-1998) do Worlbank hỗ trợ. Trong thời gian này, một lượng lớn tinh đông lạnh của các giống bò thịt nổi tiếng thế giới đã được nhập về, kết hợp với giống bò trong nước, chương trình “Sind hóa”, “ZEBUize” đã triển khai mạnh mẽ trong nước. Bên cạnh đó, các tổ hợp lai giữa giống bò thịt với bò thịt tiên tiến của Việt Nam đã được nghiên cứu và triển khai ở nhiều trang trại, gia trại. Tuy nhiên, đàn bò lai giai đoạn này chỉ chiếm khoảng 20 – 25% tổng đàn bò cả nước.

Xem thêm:  Các Bệnh Ngoài Da Ở Lợn

4. Từ năm 2000 đến nay.

Trên thực tế, người chăn nuôi rất thích bò lai để lấy thịt và Thị trường khan hiếm thịt bò do nhu cầu tiêu thụ loại thịt này ngày càng tăng. Trước yêu cầu của thị trường, cùng với việc khuyến khích, hỗ trợ phát triển chăn nuôi bò thịt thông qua một số chương trình, dự án đã đẩy mạnh phát triển đàn bò lai trong nước. Không chỉ vậy, một số công ty, doanh nghiệp đã đầu tư nhập giống lợn thịt về nuôi trong nước. Vì vậy, tỷ trọng bò lai và bò thịt ở nước ta ngày càng tăng, phong trào chăn nuôi bò thịt phát triển ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Ở giai đoạn này, bò lai có thể mang hai dòng máu, sinh ba, gồm F1, F2 và F3. Do công tác quản lý yếu kém, khó khăn nên không xác định được chính xác số loại, cấp huyết của các giống tham gia. Bảng 3 dưới đây trình bày đàn bò lai và các giống bò khác được nuôi để lấy thịt trong những năm gần đây.

Bảng 3: Số lượng đàn bò lai ở Việt Nam từ năm 2014 – 2019 (Tổng cục TKCN, ngày 01 tháng 10 hàng năm)

Địa phương 2014 2015 2016 2017 2018 2019
Toàn quốc – (con)

-%

2.717. 986

51,92

3.040.577

56,65

3.147.942

57,27

3.575.860

63,23

3.395.050

58.51

5.742.295

94,76

Đồng bằng – (con)

Sông Hồng -%

366,941

74,48

387.971

78.11

394.981

80.11

416.563

84.90

405.871

81,19

461.335

92,91

MN & TD – (con)

Bắc – %

162.694

17.90

180.494

19,14

204.195

21.31

254,843

25,74

261.804

25,60

1.051.485

97,22

Bắc Trung bình & – (con)

MTMT -%

1.039.834

49.06

1131.671

51,78

1.282.604

57,30

1.366.205

59.32

1.414.151

59.77

2.303.125

96,76

Tây Nguyên – ( đứa trẻ)

-%

194.734

28,91

287.995

42.01

324.174

45,17

304.379

40,33

274.946

35.66

804.469

96.75

Đ. Miền Nam – (con)

-%

333.884

92.41

348.702

94.98

328.563

87.07

362.554

90,69

362.611

91,82

312,926

74,42

Bằng – (con)

Cửu Long -%

619.899

91,45

689.011

97,91

613.425

86.17

671.316

92,37

675.667

90,28

808.955

95,21

Số liệu của TCTK, 01/01/2020; không xác định số lượng bò lai.

Qua bảng 3 nhận thấy:

– Tỷ lệ con lai tăng nhanh, năm 2014 chiếm 51,92% tổng đàn bò lên 63,23% năm 2017 và 58,51% năm 2018.

– Các vùng miền, các tỷ lệ bò lai không giống nhau. Ở Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, bò lai luôn chiếm tỷ trọng cao trong đàn, thường xuyên trên 90% tổng đàn bò của vùng. Tại vùng Đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ bò lai trong đàn bò đạt 80 – 90%.

– Vùng Trung du và miền núi phía Bắc, tỷ lệ bò lai thấp chỉ 20-25%. Tỷ lệ này ở Tây Nguyên cao hơn và đạt 35-45%. Ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, tỷ trọng bò lai đứng ở vị trí trung bình giữa các vùng, đạt 57- 59,77%.

Khả năng cho thịt của bò

Tương ứng với số lượng gia súc được nuôi là khối lượng thịt hơi của đàn. bò sản xuất, cung cấp cho thị trường và khối lượng giết mổ bình quân trên một con bò (Bảng 4).

Qua bảng 4, ta có nhận xét:

– Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng của cả nước ngày càng tăng , năm 2014 đạt 292.901,0 tấn, đến năm 2019 đạt 355.288,0 tấn. Tăng giá thịt bò sống được quan sát thấy ở tất cả các vùng, mặc dù mức tăng không giống nhau ở các vùng khác nhau.

– Trọng lượng thịt bò trung bình Tỷ lệ xuất chuồng không cao, thấp nhất 170-180 kg / con ở Trung du miền núi phía Bắc, cao nhất 220-250 kg / con ở Đông Nam Bộ. Ở các vùng khác, trọng lượng bò thịt xuất chuồng bình quân chỉ đạt 190 – 200 kg / con.

– Trọng lượng bò thịt xuất chuồng bình quân của các vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long cao hơn các vùng khác được lý giải: Tỷ trọng bò lai ở các vùng này luôn cao hơn so với các vùng khác do bò lai có khối lượng lớn hơn bò Vàng cùng lứa tuổi nên khối lượng bình quân

– Khối lượng trung bình của gia súc xuất chuồng ở Tây Nguyên tương đương cả nước, mặc dù tỷ lệ bò lai của vùng này thấp. Nguyên nhân là do có nhiều bò sống từ Úc, Thái Lan và Campuchia được nhập về để vỗ béo trước khi giết mổ tại khu vực này. Thứ hai, có một số trang trại chăn nuôi bò thịt ngoại thuần chủng, xuất bán và giết mổ hàng nghìn con mỗi năm.

Bảng 4: Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng qua các năm

Địa phương 2014 2015 2016 2017 2018 2019
Toàn quốc – SLG thịt (con)

– Số lượng thịt (tấn)

– Khối lượng / chiếc (Kilôgam)

1.537.714

292.901

190.48

1.567.420

299.324

190,97

1.603.790

308.608,0

192.42

1.652.128

321.666,0

194,70

1.716.399

334.472

194,87

1.794.421

355.288,0

198,00

Đồng bằng sông Hồng – Số lượng thịt (con)

– – Số lượng thịt (tấn)

– KL.TB / con (kg)

163.630

33.340

203,75

162.536

32,995

203,00

165.299

33.658,9

206.51

170.193

34.714,0

203,97

182.162

35.700,0

195,98

188.692

36.441, 0

193.12

MN & TD – Thịt SLG (bé)

– Số lượng thịt (tấn)

– KL.TB / cái (kg)

170.983

30.104

176.06

169.821

30.363

178,79

170.864

30.536,7

178,72

175.811

31.619,0

179,85

190.016

34.037,0

179,13

211.203

37.086,0

175.59

Bắc TB & – Số lượng thịt (thịt)

DHMT – Lượng thịt (tấn)

– KL.TB / kiện (kg)

668.507

126.093

188,62

681.167

128.687

188.92

696.004

131.069.1

188.32

711.471

136.552,0

191, 93

734.762

141.858,0

193.07

772.361

149.716,0

193.84

T . Sống – SLG thịt (thịt)

– SLG thịt (tấn)

– Hàng / chiếc (kg)

193.634

34.469

178.01

190.132

36.366

191.27

200.097

38.618,3

193,00

210.719

40.444,0

191,93

206.747

39.800,0

192.51

229.706

46.166,0

200,98

NE – Thịt (thịt)

– Số lượng thịt (tấn)

– Khối lượng / chiếc ( Kilôgam)

105.613

24.172

228,87

109.908

24.265

220,78

115.343

25.335,8

219,66

120.516

26.034,0

216,02

124.171

26.431,0

212.86.00

100.073

25.808,0

257,89

NE- SCL – SLG thịt (con)

– Số lượng thịt (tấn)

– Khối lượng / đơn vị (kg)

235.347

44.721

190.02

254.856

46.648

183.04.

256.183

49.389.4

192,79

263.417

52.302,0

198.55

278.541

56.645,0

203,36

292.386

60.071,0

205,45

Xem thêm:  Hướng Sản Xuất Của Lợn Móng Cái

Điểm mạnh, điểm yếu và hướng phát triển trong những năm tới

Điểm mạnh

– Nhiều giống bò thịt nổi tiếng trên thế giới đã du nhập vào nước ta. Một số tổ hợp lai giữa các giống đã hình thành và đang được phổ biến, thúc đẩy trong thực tiễn sản xuất.

– Chúng tôi đã có phong trào cải tạo đàn. Bò Vàng nội theo phương pháp “Sind hóa”, “U hóa chất”, “Hóa chất Zebu”. Phong trào này được triển khai trên diện rộng, thu được hiệu quả tốt không chỉ trên thực tế mà còn trong nhận thức của nông dân. Người nông dân thích nuôi những con bò lai này để bán và giết thịt.

– Đã đào tạo đội ngũ kỹ thuật phổ biến kỹ thuật chăn nuôi. bò cho người chăn nuôi, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên và cán bộ thú y cơ sở.

– Nhập nội, chọn tạo một số giống cỏ tốt đáp ứng nhu cầu thức ăn thô xanh cho bò.

– Chính phủ có một số chính sách, hỗ trợ con giống, phát triển giống và phòng bệnh. bệnh cho vật nuôi. Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được phổ biến và chuyển giao trong sản xuất.

mặt xấu (yếu ) trong chăn nuôi bò thịt

– Các chính sách của Nhà nước không liên tục, không toàn diện, không mang tính lâu dài theo chuỗi hoặc hệ thống. Chưa có chính sách chăn nuôi bò thịt cho cả nước.

– Chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất không tạo nên sức mạnh, kép Khi mang tính chất phân khúc, phân khúc. Con giống không đi cùng thức ăn, tách biệt với thú y, phòng chống dịch bệnh. Người chăn nuôi đôi khi coi thường và không tuân thủ quy trình kỹ thuật.

Hướng phát triển trong tương lai

– Tiếp tục cải tạo đàn bò nội (Màu vàng) theo lộ trình “Zebuization” hai chiều hoặc đối với bò đực chọn lọc nhảy trực tiếp vào những con bò đực xa xôi, biệt lập hoặc Thụ tinh nhân tạo (AI) trong môi trường sống tập trung của bò và có điều kiện.

– Tạo tổ hợp lai giữa các giống có thể là hai máu, ba máu, bốn máu. Có thể ở một đời, hai thế hệ, ba thế hệ trở lên (F1, F2, F3…) phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng. Trên cơ sở kết quả theo dõi, chọn một, hai hoặc nhiều tổ hợp tốt, có ưu điểm đặc biệt chú ý các đặc điểm sinh trưởng nhanh, tiêu tốn ít thức ăn, thích nghi tốt với điều kiện nhiệt đới nóng. độ ẩm ở nước ta. Đối với các tổ hợp lai được chọn lọc có những ưu điểm trên sẽ tự giao phấn để sửa chữa những đặc tính tốt và đưa vào chương trình chọn tạo giống mới trong điều kiện thực tế nước ta. Hy vọng trên nền tảng hiện có, 20-25 năm sau chúng ta sẽ có một giống bò thịt mới cho Việt Nam.

– Tạo nguồn thức ăn thô xanh phong phú, đa dạng, phù hợp với mùa vụ, vùng sinh thái kết hợp với vật liệu xây dựng tiêu chuẩn, khẩu phần ăn theo từng giai đoạn sinh lý của vật nuôi.

– Thực hiện tốt công tác phòng chống dịch với phương châm phòng là chính, chữa bệnh miễn cưỡng.

– Đào tạo nguồn nhân lực từ cán bộ quản lý, kỹ càng từ công nhân kỹ thuật đến người trực tiếp làm trang trại và nông dân trực tiếp chăn nuôi bò.

– Đào tạo nhân viên chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Khi chuyển giao, phải toàn diện từ A đến Z, lấy phương châm cầm tay chỉ việc sẽ cho hiệu quả tốt nhất.

– Xây dựng các quy chuẩn, tiêu chuẩn phù hợp để cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật cấp trên cũng như cán bộ kỹ thuật cấp dưới và bà con nông dân dễ dàng thực hiện và thống nhất ./.

Một số giống bò thịt nổi tiếng trên thế giới đã có mặt ở nước ta gồm: giống, tinh, phôi.

Về Dương Giang

Với tình yêu và kinh nghiệm, sự hiểu biết trong lĩnh vực cây cảnh, cây xanh, làm vườn...Mình hi vọng sẽ cùng bạn xây nên những khu vườn diệu kỳ, cây cối phát triển khỏe mạnh.

Viết một bình luận