Kỹ Thuật Nuôi Ngỗng Đẻ Trứng

Giai đoạn hậu kỳ

Nhân giống ngan giai đoạn 1 12 tuần tuổi tương tự như nuôi ngỗng thịt. Sau 70 ngày tuổi, chọn con giống đủ tiêu chuẩn để nuôi ngan ngỗng. Khi lựa chọn áo khoác ngỗng, người ta chủ yếu dựa vào ngoại hình kết hợp với trọng lượng và kích thước cơ thể. Cần thận trọng khi chọn lọc để tránh đồng huyết trong đàn giống.

Việc phân biệt đực và cái theo ngoại hình thời kỳ này còn dễ nhầm lẫn. Thông thường con đực to và nặng hơn con cái, cổ dài, thân hình nhanh nhẹn. Nói một cách chính xác thì bạn vẫn phải sử dụng phương pháp mở lỗ để kiểm tra gai sinh dục. Ngỗng đực có gai giao phối màu hồng nhạt, dài khoảng 1,5 cm; con cái không có gai giao cấu, lỗ thông nhẵn và mềm hơn.

Thời gian nuôi ngan tùy theo giống, từ 160 đến 180 ngày tuổi. Trong thời gian này, con đực và con cái được giữ riêng biệt. Ngỗng chỉ cần nuôi hạn chế với khẩu phần có năng lượng và hàm lượng protein thấp hơn so với giai đoạn trước. Tăng cường cho đàn ngỗng ăn trên bãi cỏ chăn để giảm lượng thức ăn tinh hàng ngày.

Khi chuyển ngan sang đàn sinh sản phải chọn lọc lại để loại bỏ những con không đạt tiêu chuẩn.

Kỹ Thuật Nuôi Ngỗng Đẻ Trứng
Kỹ Thuật Nuôi Ngỗng Đẻ Trứng

Giai đoạn sinh sản

Sinh sản của ngan thường chia làm 3 giai đoạn, đó là thời điểm đẻ trứng; thời kỳ ủ bệnh và thời kỳ đẻ.

Xem thêm:  Cách Điều Trị Lợn Bỏ Ăn

Thời kỳ đẻ trứng, tuy ở cùng một lứa tuổi nhưng không phải ngỗng nào cũng đẻ cùng một lúc, mà đẻ lứa trước, lứa sau. Khoảng cách giữa các cá thể đẻ sớm và đẻ muộn khá xa, có khi tới 3 – 4 tháng. Ngỗng Rheinland nuôi ở nước ta bắt đầu sinh sản từ tháng 10, nhưng nhiều con mãi đến tháng 2 năm sau mới bắt đầu đẻ. Những cá thể đẻ sớm có năng suất trứng cao hơn. Những con cái bắt đầu đẻ vào tháng 10 có thể đẻ 73 trứng, trong khi những con bắt đầu đến tháng 2 chỉ đẻ 46. Trong quá trình đẻ, con cái càng nhiều, cường độ rụng càng lớn, bộ lông càng xơ xác. Ngược lại, những con đẻ ít, bộ lông óng mượt trông rất đẹp. Bộ lông sáng bóng của ngỗng đẻ kém vào giữa mùa có thể dễ dàng nhận thấy bằng mắt thường. Tính năng này sẽ giúp ích trong việc chọn lọc và loại bỏ những cá thể sinh sản kém trong đàn ngỗng sinh sản.

Việc chọn lọc để cải thiện sản lượng trứng không chỉ giảm thời gian sử dụng ngỗng đẻ trứng mà còn giảm khoảng cách về sản lượng trứng giữa các năm đẻ trứng. Khi năng suất trứng còn thấp (khoảng dưới 40 trứng / gà mái) thì năng suất trứng năm thứ hai cao hơn năm thứ nhất khoảng 20%. Đàn được chọn lọc nâng cao khả năng đẻ trứng (năng suất trứng trên 50 trứng / con), năng suất trứng năm thứ hai chỉ cao hơn năm thứ nhất khoảng 13%. Thời gian sử dụng từ 5 năm đến 4 năm. Với đàn ngan cho năng suất trứng cao, cơ cấu tuổi của đàn ngan nên ngan đẻ năm đầu chiếm 35%; 25% năm thứ hai; 23% cho năm thứ ba; Năm thứ tư 17% là hợp lý.

Xem thêm:  Nuôi Tôm Càng Xanh Toàn Đực

Đối với đàn ngan cho năng suất trứng thấp, thời gian sử dụng đến 5 năm, tỷ lệ ngan đẻ năm đầu chiếm 10%; năm thứ hai 20%; năm thứ ba 35%; năm thứ tư 25% và năm thứ năm 10%. Tỷ lệ ngan ở các lứa tuổi hợp lý sẽ giúp khả năng sinh sản tốt hơn. Ngỗng hoang dã nên chăn thả ở các bãi cỏ gần chuồng để chúng dễ dàng tìm thấy hộp làm tổ của mình. Khi ngan đẻ trứng, sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm cao hơn thời kỳ đẻ, cung cấp đầy đủ vitamin và khoáng chất. Tỷ lệ thức ăn tinh và thức ăn thô xanh tối thiểu là 1/1. Thời kỳ đẻ chỉ cần cho ngan ăn khẩu phần ít năng lượng và protein (2.400 kcal với 12 -13% protein). Nếu vẫn sử dụng thức ăn cho ngỗng đẻ thì giảm 60-70% lượng thức ăn của thời kỳ đẻ trứng. Giai đoạn này có thể cho ngan ăn thức ăn giống với rau xanh cho ăn tự do hoặc chăn trên bãi cỏ (khoảng 1 kg rau xanh / con / ngày). Thức ăn tinh và thức ăn thô xanh cần được cho ăn bằng máng riêng để đảm bảo chất lượng thức ăn cho ngỗng.

Viết một bình luận