Gia Súc Gồm Những Con Gì

– Nhìn chung, chăn nuôi trâu, bò, dê, cừu năm 2017 không gặp nhiều áp lực , và không gặp khó khăn như chăn nuôi lợn, chăn nuôi gia cầm. Nhưng, nhìn vào số lượng nhập khẩu thịt gia súc các năm 2015, 2016 và 2017, người chăn nuôi mới lo ngại và thấy rõ sự cạnh tranh mạnh mẽ của mặt hàng này.

Bảng sau đây cho thấy nhập khẩu gia súc và các sản phẩm của chúng vào thị trường Việt Nam.

Bảng 1 Số lượng nhập khẩu thịt trâu, bò, thịt rút xương sống trong 3 năm 2015 – 2017

Các ngành Vị trí 2015 2016 2017
Trâu, bò đứa trẻ 419,952 316,385 268.821
Thịt xương TB Tấn 4.845 44.714 43,7 77
Thịt bò không xương Thịt bò Tấn 854 1.254 662.313
(TCHQ, 01/2016; Báo cáo Sở Công nghiệp, năm 2017)
Gia Súc Gồm Những Con Gì
Gia Súc Gồm Những Con Gì

– Lượng gia súc sống nhập về nước ta giết thịt để tiêu thụ rất lớn, năm 2015 là 419.952 con, năm 2016 con số này giảm còn 316.385; 11 tháng đầu năm 2017 là 240.461 con.

– Lượng thịt bò, bò nhập khẩu năm 2015 là 4.845 tấn, năm 2016 tăng lên 44.714 tấn và năm 2017 là 43.777 tấn. Mấu chốt là ở loại thịt xương trâu bò này. Thịt trâu, bò có xương gọi là thịt xẻ, tỷ lệ thịt xẻ của nước ta thường đạt 40-45% (Tỷ lệ thịt xẻ = khối lượng thịt có xương / khối lượng gia súc sống trước khi giết mổ x100). Vì vậy, ngoài số lượng bò hơi nhập khẩu, hàng năm họ còn nhập khẩu khoảng 350.000 – 400.000 con, tương đương với lượng thịt bò, xương (tính theo tỷ lệ thịt xẻ là 45%, khối lượng gia súc sống trước khi giết mổ là 300 kg). Theo số liệu thống kê 01/10/2017, lượng thịt hơi của đàn trâu, bò nước ta đạt 409.625 tấn (bò 321.666 tấn trâu 87.959 tấn), tương đương 45% thịt, khoảng 185.000 tấn, gấp đôi so với trâu Thịt trâu, bò nhập khẩu. Tất cả những điều trên khẳng định thịt gia súc do sản xuất và cung cấp trong nước chỉ đáp ứng được 50% lượng tiêu thụ, 50% còn lại phải nhập khẩu từ bên ngoài. Xuất phát từ thị trường nội địa như vậy, ngành chăn nuôi tuy có phát triển nhưng không nhiều trong những năm gần đây, cụ thể như sau:

1. Chăn nuôi Trâu
Theo số liệu thống kê hàng năm 1/10, số lượng đàn trâu và sản phẩm thịt trâu trong giai đoạn 2015 và 2017 được thể hiện trong bảng 2 dưới đây.

Gia Súc Gồm Những Con Gì
Gia Súc Gồm Những Con Gì

Bảng: Số lượng đàn trâu và các sản phẩm từ thịt trâu, giai đoạn: 2015 – 2017.

Mục tiêu Vị trí 2015 2016 2017
Định lượng % tăng hoặc giảm so với năm 2015 Số tiền% tăng hoặc giảm so với năm 2016
Số lượng c on 2.523.660 2.519.411 -0,17 2.491.662 – 1.90
Sl.X.show trẻ em 391.853 396.995 1.31 400.421 0,86
Sl. Thịt hơi Tấn 85.777 86.633 1,00 87,959 1,53
(GSO, 1.10.2015; 1.10.2016 và 1.10.2017)

Qua bảng trên thông báo:

– Đàn trâu ngày càng giảm. Năm 2016 giảm 0,17% so với năm 2015; năm 2017 so với năm 2016 giảm 1,90%. Chăn nuôi trâu có nguy cơ giảm mạnh. Thực tế đã chứng minh, năm 2007 cả nước có 2.996.400 con trâu (TCTK, 01/10/2007), đến nay chỉ còn 2.491.662 con, giảm hơn 500.000 con = 16,9%.

– Mặc dù số lượng đàn trâu giảm nhưng sản lượng thịt trâu cung cấp ra thị trường lại tăng, tỷ lệ không nhiều, năm 2016 so với năm 2015 tăng 1,0%. . ; năm 2017 so với năm 2016 tăng 1,53%. Lượng thịt của đàn trâu tăng thể hiện: ( ) con giống được cải tiến ( ) khoa học công nghệ chọn tạo giống, chăm sóc, nuôi dưỡng đã và đang được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất. .

2. Bò thịt
Bò thịt thời kỳ qua tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng mặc dù mức tăng trưởng không cao. Bảng sau đây chứng minh rõ ràng tuyên bố này.

Xem thêm:  Nuôi Rắn Ri Voi Sinh Sản

Bảng 3: Số lượng bò thịt và các sản phẩm từ thịt bò giai đoạn 2015-2017

2016

2017 Định lượng % tăng hoặc giảm so với năm 2015 Số tiền% tăng hoặc giảm so với năm 2016 Số tiềnCon cái5.367.0785.496.557 2.415,654.901 2, 88Tỷ lệ bò lai%56,6 757,27 0, 6063,23 5,96Số lượng thịt bò gia súcTrẻ em1.567.4201.603.790 2,321.652.125 3.01Số lượng thịtTấn299.324308.608 3.10321.666 4,23 (TCTK, 1.10.2015; 1.10.2016; 1.10.2017)

Qua bảng 3 nhận thấy:

– Bò thịt cả nước 3 năm trở lại đây luôn tăng trưởng. Năm 2015, đàn bò cả nước có 5.367.078 con, đến năm 2016 tăng 2,41% so với năm trước, đạt 5.496.557 con; năm 2017 tăng 2,88% so với năm 2016, đạt 5.654.901 con.

– Sản lượng thịt bò xuất chuồng cũng tăng cao, năm sau cao hơn năm trước. . Năm 2016 cao hơn 3,10% so với năm 2015 và đạt 308.608 nghìn tấn. Năm 2017 đạt 321.666 nghìn tấn, cao hơn năm 2016 là 4,23%.

– Tỷ lệ đàn bò lai năm 2015 chỉ đạt 56,67%, tăng lên 57,27% năm 2016 và đạt 63,23% năm 2017. Đàn bò thịt tăng nhanh. khả năng sản xuất thịt.

– Số lượng đàn bò thịt Nước ta phân bố khắp cả nước với tỷ lệ khá ổn định, cao nhất trên 40% đàn bò cả nước, chủ yếu là Bắc Trung Bộ. và Duyên hải miền Trung; tiếp đến là Trung du và miền núi phía Bắc trên 17%; vùng Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long đạt tỷ lệ 12 – 13%; Đàn bò của vùng Đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm khoảng 9,0%, ít nhất ở Đông Nam Bộ chỉ 6,8-6,9%.

– Sản lượng thịt hơi xuất chuồng của đàn bò ở các vùng được thể hiện rõ: cao nhất là Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ, chiếm trên 42-43%; tiếp đến là Đông Nam Bộ chiếm 15,6-16,3%, Tây Nguyên từ 12,1-12,6%; Trung du và miền núi 9,8-10,1%, Đồng bằng sông Hồng 10,8-11%; Thấp nhất là Đông Nam Bộ chỉ chiếm 8,1-8,2%.

– Khả năng sản xuất thịt của đàn bò Đồng bằng sông Cửu Long cao. Tốt. Nếu lấy năm 2017 làm ví dụ: 1% trong cơ cấu đàn bò của vùng này sẽ tạo ra 1,26% trong cơ cấu thịt bò (16,3: 12,9 = 1,26); tương tự vùng Đồng bằng sông Hồng là 1,24%; 1,17% ở Đông Nam Bộ; Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ là 1,04%. Thấp nhất là khả năng sản xuất thịt của đàn bò vùng Trung du và miền núi phía Bắc, 1% cơ cấu đàn bò chỉ cho 0,56% hàm lượng thịt (9,8: 17,5 = 0,56). ; ở Tây Nguyên là 0,95 (12,6: 13,3). Khả năng sản xuất thịt bò phụ thuộc vào hai yếu tố: (-) trọng lượng của đàn bò được tạo ra trong khu vực đó, (-) Khả năng quay vòng hoặc số lượng bò được thả ra khỏi khu vực đó.

3. Sữa
Chăn nuôi bò sữa của nước ta trong ba năm qua chịu ảnh hưởng mạnh của giá sữa bột thế giới năm 2014. Ngoài ra Trước sự sụt giảm của giá cả, yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm của người dân đòi hỏi người chăn nuôi và chế biến sữa phải cẩn thận hơn trong chuỗi quy trình và công việc trước khi cung cấp sữa ra thị trường, từ chăm sóc, nuôi dưỡng bò sữa đến vắt sữa thu thập và bảo quản. , chế biến, vận chuyển, phân phối và lưu thông. Tuy nhiên, chăn nuôi bò sữa ở nước ta vẫn tăng trưởng liên tục, mặc dù bước tăng trưởng không cao như những năm trước. Bảng sau đây cho thấy vấn đề này.

Bảng 4: Số lượng bò sữa và sản phẩm sữa tươi sản xuất trong giai đoạn: 2015 – 2017.

Mục tiêu Vị trí 2015 2016 2017
S. Số lượng % tăng hoặc giảm so với năm 2015 S.% tăng hoặc giảm so với năm 2016
Số tiền Con 275.328 282.990 2,78 301.649 6,59
Chép g sữa Tấn 723.153 795.144 9,96 881,261 10,83
(TCTK, 1.10.2015; 1.10.2016; 1.10.2017)

Qua bảng trên nhận thấy:

Xem thêm:  Cách Nuôi Chồn Hương Sinh Sản

– Đàn bò sữa năm sau cao hơn năm trước, năm 2016 cao hơn 2,78%. so với năm 2015; Năm 2017, tổng đàn bò sữa của nước ta đạt 301.649 con, cao hơn năm 2016 là 6,59%.

– Tương ứng với số lượng bò sữa, sản lượng Sữa tươi sản xuất trong nước năm 2015 đạt 723.123 tấn, năm 2016 đạt 795.144 tấn, tăng 9,96% so với năm trước và trong Năm 2017, sản lượng sữa tươi sản xuất trong nước đạt 881.261 tấn, tăng 10,83% so với năm 2016.

– Tốc độ tăng sản lượng sữa cao hơn so với đàn bò nói trên. , chất lượng của giống thay đổi và năng suất của giống được cải thiện. .

Qua số liệu thống kê ngày 01 tháng 10 năm 2017, chúng tôi nhận thấy:

– Đàn bò sữa nhiều nhất được nuôi ở Đông Nam Bộ, chiếm 33 – 37% tổng đàn bò sữa của cả nước; tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung chiếm 21 – 22%, bò sữa ở Đồng bằng sông Hồng chiếm 13,3-15,2%. Hai vùng có điều kiện chăn nuôi bò sữa nhiều nhất cả nước là Trung Du – Miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, đàn bò sữa chỉ chiếm tỷ trọng lần lượt là 6,2-7,6% và 7,5-10,3. %. Đàn bò sữa vùng Đồng bằng sông Cửu Long tương đối ổn định và chiếm 12,5 -13%.

– Trái ngược với sự tăng trưởng của các vùng, hai vùng có đàn bò sữa giảm, giảm sâu nhất, chủ yếu là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng. Đây là vùng bò sữa chiếm tỷ lệ cao nhất so với các vùng trong cả nước. Năm 2015, đàn bò sữa ở đây chiếm 37% tổng đàn bò sữa cả nước, giảm xuống chỉ còn 35% năm 2016 và 33% năm 2017. Khu vực có đàn bò sữa giảm, tiếp đến là Đồng bằng sông Hồng. . Đàn bò sữa ở đây năm 2015 đang chiếm 15,2% tổng đàn bò sữa cả nước, đã giảm xuống còn 13,3% năm 2016 và 13,6% năm 2017. Sự suy giảm đàn bò sữa ở hai vùng này. Điều này xuất phát từ: (-) Chính sách thu mua sữa của Công ty chưa ổn định, (-) yêu cầu cao về an toàn vệ sinh thực phẩm của các sản phẩm sữa (-) Chăn nuôi bò sữa không hiệu quả chăn nuôi bò thịt.

4. Nuôi dê
Chăn nuôi dê những năm gần đây không có sự cạnh tranh, áp lực như nuôi lợn, gà, trâu. Nhu cầu về an toàn thực phẩm, thực phẩm hữu cơ đã tạo động lực cho nghề chăn nuôi dê phát triển. Vì vậy, nghề nuôi dê ba năm trở lại đây phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng.

– Trong 3 năm trở lại đây, tốc độ tăng đàn của đàn dê rất cao. Năm 2015, cả nước có 1.777.644 con dê, năm 2016 đàn dê tăng lên 2.021.003 con, tăng 13,69% so với năm 2015 (2.021.003 con: 1.777.644 x100); năm 2017 đàn dê đạt 2.556.268 con, tăng 26,49% so với năm 2016 (2.556.268 con: 2.021.003 x100 con);

– Đàn dê tăng trưởng ở khắp các vùng miền trong cả nước, tăng nhanh nhất là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, năm 2017 đàn dê đạt 623.501 con, cao hơn 43,38% so với năm 2015. Tương tự, đàn dê của vùng Đông Nam Bộ năm 2017 cao hơn năm 2015 là 41,59% (327.715 con: 231.449 con); vùng Đồng bằng sông Hồng 32,25%; Trung du và miền núi 28,32%; Năm 2017 tăng trưởng thấp nhất so với năm 2015 của đàn dê ở ĐBSCL đạt 24,17%, tiếp đến là Tây Nguyên, đàn dê năm 2017 so với năm 2015 cao hơn 30,68%.

Xem thêm:  Cách Phối Hợp Kháng Sinh Trong Thú Y

– Đàn dê của nước ta được nuôi tập trung cao, chiếm 37-42% tổng đàn dê cả nước, bao gồm cả Trung du và miền núi phía Bắc, tiếp theo là Bắc. Duyên hải miền Trung và Duyên hải miền Trung, đàn dê chiếm 24%. Vùng có số lượng dê ít nhất là Đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm 4 – 5%; Vùng Tây Nguyên đàn dê chỉ chiếm 6 – 6,6%.

– Sản lượng thịt của đàn dê cũng tăng nhanh, năm 2016 lượng dê thịt xuất chuồng tăng 5,97% so với năm 2015 (21.142 tấn: 19.950 con tấn), đặc biệt lượng dê thịt sản xuất và cung ứng năm 2017 cao hơn năm 2016 là 24,20% (26.250 tấn: 21.142 tấn). Lượng dê thịt sản xuất và cung cấp ra thị trường lớn, trên 30-34% ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; 22-23% từ miền núi và trung du phía Bắc. tiếp đến là Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ 17-18%.

5. Nuôi cừu
Chăn nuôi cừu giai đoạn 2015-2017 cũng giống như nuôi dê có tốc độ tăng trưởng và bứt phá ngoạn mục. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê đến ngày 01/10/2017, tổng đàn cừu cả nước có 168.128 con, tăng 33,29% so với năm 2016 (168.128 con: 126.133 con); Năm 2016 so với năm 2015, đàn cừu tăng trưởng 17,22% (126.133 con: 107.603 – TCTK, 01/10/2016).

– Sản lượng thịt cừu Sản lượng không nhiều, chỉ đạt 1.887 tấn năm 2017 và 1.681 tấn năm 2016. Khác với Dê, Cừu chỉ tập trung ở một số tỉnh Duyên hải miền Trung. chẳng hạn như Ninh Thuận, Khánh Hòa, và các tỉnh khác. rất ít hoặc những người mới đến. Vì vậy, lượng thịt cừu sản xuất và cung cấp ra thị trường có tới 85-95% do Ninh Thuận và Khánh Hòa cung cấp.

6. Kết luận
Năm 2017 là một năm chăn nuôi đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Thịt bò tăng 4,23%, tỷ lệ bò lai đạt 63,23%, đàn bò sữa tăng 6,59%, tổng sản lượng sữa tươi tăng 10,83%. Dê, cừu tăng nhảy vọt, dê tăng 26,49%, cừu 17,22%. Đàn trâu tuy giảm về số lượng nhưng lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 1,53% so với năm 2016. Để chăn nuôi tốt, bền vững và hiệu quả giữa các vùng, các biện pháp cơ bản cần được phổ biến, quán triệt sâu sắc. các nhà chăn nuôi:

đầu tiên. Thức ăn thô xanh là yếu tố quyết định sự thành bại khi nuôi loài vật này. Năng suất cao hay thấp và hiệu quả chăn nuôi ở mức độ nào phụ thuộc vào hỗn hợp và chất lượng của thức ăn được sử dụng cho vật nuôi. Vì vậy, đối với vật nuôi, trước hết phải cho vật nuôi ăn đủ số lượng, sau đó mới đến chất lượng, nuôi dưỡng đúng theo trạng thái sinh lý của vật nuôi.

2. Luôn nghĩ đến việc nâng cao chất lượng con giống bằng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến và công nghệ cao. Sử dụng các biện pháp này một mình hoặc kết hợp để sản xuất giống nhanh hơn, năng suất hơn.

3. Vỗ béo vật nuôi trước khi giết mổ, giết mổ đúng quy trình là cách không chỉ giúp tăng sản lượng thịt lên 20 – 30%, mà còn nâng cao chất lượng thịt, mền hơn.

4. Chấp hành tốt luật thú y để môi trường chăn nuôi trong sạch hơn, ít thiệt hại hơn mỗi khi có dịch bệnh xảy ra.

5. Đào tạo, tập huấn, hội thảo để phổ biến nhanh các kỹ thuật hay, mô hình tốt trong thực tế.

PGS.TS. KIM LOẠI TRUYỀN THÔNG
Chủ tịch Hiệp hội Gia súc lớn Việt Nam

Viết một bình luận