Dây Na Rừng

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Dây na rừng
  • Tên gọi khác: Na leo, Nắm cơm, Chua cùm, Đại toán, Dây răng ngựa
  • Tên khoa học: Kadsura heteroclita (Roxb.) Craib – Kadsura roxburghiana Arn.
  • Họ: Schisandraceae
  • Nơi sống: Loài na rừng phân bố rải rác ở vùng núi từ 600m đến 1500m, ở các tỉnh Lào Cai, Hà Tây, Cao Bằng, Lạng Sơn… ở phía nam thấy ở Lâm Đồng. Trên thế giới cây phân bố ở một số khu vực núi cao trong vùng có khí hậu nhiệt đới hay á nhiệt đới của Ấn Độ, Lào và Nam Trung Quốc.

Dây Na Rừng

II. Đặc điểm của cây

  • Dây leo. Thân cứng, hóa gỗ, màu nâu đen, cành nhẵn.
  • Lá mọc so le, phiến dày, hình bầu dục hoặc hình trứng, dài 10 – 12 cm, rộng 4 – 5 cm, gốc tròn, đầu nhọn, mặt trên mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt, có nhiều chấm trắng nhỏ.
  • Hoa khác gốc, mọc đơn độc ở kẽ lá; lá bắc dễ rụng; bao  hoa gồm những phiến mập hình trứng, xếp thành 2 – 3 vòng, càng vào trong, phiến càng lớn hơn, màu trắng thơm, điểm vàng nâu ở đầu phiến; hoa đực có nhiều nhị mọc trên một cán ngắn, hoa cái có các lá noãn xếp rất sít nhau.
  • Quả to, hình cầu, rất giống quả na, nhiều múi, khi chín màu vàng, ăn được.
  • Mùa hoa: tháng 5 – 6, mùa quả: tháng 8 -9
Xem thêm:  Cây Mộc Thông

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Thân dây na rừng có vị đắng cay, tính ôn, có tác dụng khư phong, trừ thấp, hành khí, hoạt huyết.
  • Quả na rừng có vị cay, tính hơi ôn, có tác dụng ninh tâm, bổ thận, chỉ khái khư đàm.
  • Theo kinh nghiệm dân gian, na rừng được làm thuốc bổ, hoạt huyết, giảm đau, kích thích tiêu hóa. Quả khi chín ăn được. Hạt na rừng đôi khi được dùng thay thế ngũ vị tử bắc.
  • Ở Trung Quốc, thân và rễ cây na rừng được dùng chữa phong thấp tê đau, viêm loét dạ dày – tá tràng, đau bụng kinh, đau bụng sau khi dẻ. Quả na rừng chữa thận hư đau lưng, ho, viêm họng, viêm phế quản, thần kinh suy nhược. Rễ na rừng, oai diệp tử lan, hồ tiêu, các vị lượng vừa đủ, ngâm rượu uống chữa đau bụng kinh.

Viết một bình luận