Dây Mơ Lông

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Dây mơ lông
  • Tên gọi khác: Dây thối địt, Dắm chó, Ngưu bì đống, Cẩu xú đằng
  • Tên khoa học: Paederia foetida L
  • Họ: Rubiaceae
  • Nơi sống: Cây có nguồn gốc từ vùng Ấn Độ, Malaysia; hiện nay phân bố rộng rãi ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á và Nam Trung Quốc.

Ở Việt Nam, mơ lông có thể gặp hầu hết các tỉnh (trừ vùng núi cao lạnh, trên 1600m) trong quần thể trồng; đôi khi cũng gặp ở trạng thái hoang dại hoá, gần nơi có người ở hoặc bờ nương rẫy.

Dây Mơ Lông

II. Đặc điểm của cây

  • Dây leo bằng thân quấn, sống nhiều năm. Thân non hơi dẹt, sau tròn, màu lục hoặc tím đỏ.
  • Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc hình trứng, dài 5 – 10cm, rộng 2 – 4cm, gốc tròn hoặc hơi hình tim, đầu nhọn, hai mặt lá đều màu lục, gân lá rõ ở mặt trên; cuống lá dài 1 – 3cm; lá kèm rộng, thường xẻ đôi.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu ngọn thành xúm, dài 10 – 30cm, phân nhánh nhiều và toả rộng; lá bắc rất nhỏ; hoa màu trắng điểm tím nhạt, không cuống; đài hình chuông, 4-5 răng rất nhỏ, hình tam giác nhọn; tràng hình phễu, dài 1 – 1,2cm, 4-5 cánh loăn xoăn ở đầu; nhị 4-5; bầu 2 ô.
  • Quả gần hình trứng, dẹt, nhẵn, màu nâu bóng.
  • Toàn cây có lông mềm, nhất là thân, cành và lá non. Lá vò nát, có mùi khó ngửi. Mùa hoa quả: tháng 8-10.
  • Trong thực tế, còn có một loài khác có tên khoa học là Paederia scandens (Lour.) Meu. (syn.p.tomentosa L.) cùng họ, cũng được dùng với công dụng tương tự. Loài này chỉ khác ở chỗ có quả hình cầu, lá có màu tím đỏ ở mặt sau (mơ tam thể).
Xem thêm:  Hoa Lan Bò Cạp

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Mơ lông có vị hơi đắng, hơi mặn,mùi hôi, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, làm săn.
  • Lá mơ lông được dùng chữa lỵ trực khuẩn. Ngoài ra, lá mơ lông còn chữa chứng sôi bụng ăn không tiêu, viêm dạ dày, viêm ruột, chữa giun kim và giun đũa
  • Theo tài liệu nước ngoài, lá mơ lông có tác dụng bổ và làm săn. Nhân dân một số vùng ở Ấn Độ dùng lá tươi nấu canh và cho vào thức ăn khác cho người ốm và ở thời kỳ dưỡng bệnh, đặc biệt đối với người bị bệnh đường ruột. Toàn bộ cây được dùng để chữa thấp khớp. Dùng lá mơ lông đắp vào bụng để chữa chướng bụng đầy hơi, và chữa ecpét.
  • Ở Philippin, lá mơ lông nấu lên và giã nát được đắp vào bụng để điều trị bí tiểu tiện. Nước sắc lá được coi là có tác dụng lợi tiểu và làm tan sỏi bàng quang. Rễ và vỏ cây để gây nôn và quả được các bộ tộc miền núi dùng để nhuộm răng đen phòng sâu răng. Dịch ép rễ điều trị trĩ, viêm lách, đau ngực và đau gan.
  • Mơ lông có thể có tác dụng tăng thải trừ chất độc tích luỹ trong cơ thể khi dùng các chất có hại như rượu, thuốc lá, hoặc do rối loạn chuyển hoá.

Viết một bình luận