Cây Vàng Đắng

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây vàng đắng
  • Tên gọi khác: Dây đằng giang, hoàng đằng, hòang dằng lá trắng, dây khai,
  • Tên khoa học: Coscinium fenestratum (Goetgh.) Colebr. – Coscinium usitatum Pierre
  • Họ: Tiết dê Menispermaceae
  • Nơi sống: Cây mọc hoang dại rất phổ biến ở miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên. Còn thấy mọc nhiều ở Trung và Hạ Lào, Campuchia.

Cây Vàng Đắng

II. Đặc điểm của cây

  • Vàng đắng là một cây leo to, có phân nhánh, mọc bò trên mặt đất hoặc leo lên những cây gỗ cao.
  • Thân hình trụ, đường kình từ 5-10cm. Thân non màu trắng bạc, thân già màu ngà, xù xì có vết tích của lá rụng.
  • Cắt ngang thân có hình bánh xe với những tia tủy như nan hoa bánh xe, màu vàng, giữa có vòng lõi tủy xốp, lá mọc so le, mặt trên xanh, mặt dưới màu trắng nhạt, dài 15-30cm, rộng 10-20cm, có 5 gân (3 gân nỗi rõ). Mặt dưới có phủ lông tơ.
  • Hoa màu trắng phớt tím, mọc thành xim ở kẽ lá. Cuống hoa rất ngắn, rễ hình trụ, đầu thuôn hình nón, mặt ngoài màu trắng nhạt, mặ trong màu vàng, cắt ngang có hình bánh xe với những tia tủy hình nan hoa. Vị đắng.

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Người dân những vùng có cây hoàng đằng mọc hoang dại thường dùng thân và rễ cây này để nhụôm màu vàng và dùng làm thuốc như vị hoàng đằng làm thuốc chữa sốt, sốt rét, lỵ, đau mắt. Dùng dưới hình thức bột hay viên.
  • Có thể dùng làm nguyên liệu chiết berberin. Berberin clorua có thể chữa sốt, sốt rét, lỵ, đau mắt. Người ta còn dùng chữa bệnh về gan, mật, vàng da, ăn uống khó tiêu.
Xem thêm:  Cây Bướm Đỏ

Viết một bình luận