Cây Trúc Đào Hoa Vàng

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây trúc đào hoa vàng
  • Tên khoa học: Thevetia peruviana (Pers.) K. Schum
  • Họ: Apocynaceae
  • Nơi sống: Cây này vốn nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, sau đó di thực vào châu Á, châu Phi.

Cây Trúc Đào Hoa Vàng

II. Đặc điểm của cây

  • Cây nhỡ cao chừng 4~5m, thân nhẵn, trên cành mang nhiều sẹo của lá đã rụng.
  • Lá hình mác, hẹp, dài 8-15cm, rộng 4-7mm, đơn, nguyên, nhẵn, đầu nhọn, mặt trên bóng mặt dưới mờ: Gân giữa nổi rõ, gân phụ không rõ.
  • Hoa màu vàng tươi rất đẹp và thơm to, mọc thành xim ở gần ngọn.
  • Quả rất đặc biệt, hạch hình 3 cạnh dài 3 đến 5cm, dầy chừng 2-2,5cm, hơi chia thành 4 múi, lúc chưa chín có màu xanh bóng, khi chín có màu đen bóng, nhưng dăn lại và rất mềm. Hạch hình ba cạnh rất cứng rắn, màu vàng nhạt bẩn, có khi hơi nâu hay đen nhạt, lắc sẽ thấy tiếng hạt lúc lắc, trong chứa 1 hay 2 hạt, hạt dài khoảng 12mm, rộng 12mm, dày 5mm, màu trắng vàng nhạt, vị rất đắng, hơi có cảm giác tê.
  • Toàn cây có nhựa mủ trắng. Khi bẻ cành hay châm vào quả, ta thấy nhựa mủ khi mới chảy ra có màu trắng sau chuyển màu đen.

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Cây được trồng làm cảnh tại nhiều tỉnh ở Việt Nam: Trồng bằng hạt (mọc rất dễ dàng). Tại gốc cây lớn, người ta dùng thường thấy nhiều cây con, có thể đánh đi trồng nơi khác, nên trồng tập trung từng cụm từ 5 đến 10 cây một chỗ để khi thu hoạch hạt được dể dàng và đỡ tốn kém.
  • Cây nên trồng tại các công viên, vừa làm cảnh đẹp, vừa có nguyên liệu để chế thuốc.
  • Dùng cây trong những trường hợp kém tim, tim đập loạn nhịp, viêm tâm cân, tim suy nhược sau khi mổ hay sau khi mắc bệnh nhiểm trùng, đau van tim, nhất là trường hợp bị tổn thương tăng.
  • Ngoài việc dùng chất tevetin chiết từ hạt, có nơi còn dùng hạt giã nát để làm thuốc trừ sâu (hạt giã nát, ngâm với nước, thêm vào một lượng xà phòng bằng trọng luợng hạt).
  • Phun lên sâu bọ. Số lượng tuỳ theo sâu cánh cứng hay cánh mềm.
Xem thêm:  Cây Khoai Môn

Viết một bình luận