Cây Thanh Hao

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây thanh hao
  • Tên gọi khác: Thanh cao, Ngải si, Thảo cao, Ngải
  • Tên khoa học: Artemisia annua L.
  • Họ: Asteraceae
  • Nơi sống: Cây được phát hiện đầu tiên ở Trung Quốc. Năm 1982, thanh cao hoa vàng mới chính thức phát hiện tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam và sau đó được trồng ở hầu hết các tỉnh để chiết xuất artemisinin. Ngoài Lạng Sơn, thanh cao hoa vàng còn mọc ở Cao Bằng, Lào Cai và đang được trồng thử ở vùng đồng bằng sông Hồng. Thanh cao hoa vàng còn thấy mọc hoang ở Liên Xô cũ, Iran, Mông Cổ, Ấn Độ, Nhật Bản, Bắc Mỹ và một số nước thuộc vùng Đông Nam châu Á.

Cây Thanh Hao

II. Đặc điểm của cây

  • Cây sống lâu năm. Mọc hoang thành từng đám ở vùng đồi núi ven suối, ven sông.
  • Cao từ 1,5-2m.
  • Lá xẻ lông chim 2 lần, thành phiến hẹp, phủ lông mềm. Có mùi thơm. Cụm hoa hình cầu hợp thành một chùy kép.
  • Hoa màu vàng nhạt, mỗi cụm hoa gồm 6 hoa: Giữa là hoa lưỡng tính, xung quanh là hoa cái. Hoa chỉ có kích thước 0,5-1mm.
  • Quả bế hình trứng, dài 1mm. Mặt vỏ có tuyến chứa tinh dầu.

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Theo các tài liệu cổ, thanh cao có vị đắng (khổ), tính hàn (lạnh). Vào hai kinh can và đởm. Có tác dụngphục nhiệt ở âm phận. Dùng chữa những trường hợp cốt trưng lao nhiệt (đau xương, nóng), đạo hãn (mồ hôi trộm), ngược tật (sốt rét), lở ngứa. Còn dùng chữa cảm mạo, thanh nhiệt, giúp sự tiêu hoá, lợi gan mật. Dùng riêng hay phối hợp vối một số vị thuốc khác.
  • Theo khoa học hiện nay, thanh cao hoa vàng dùng làm nguyên liệu chiết artemisinin để chữa sốt, sốt rét dưới dạng thuốc viên.
Xem thêm:  Cây Nàng Hai

Viết một bình luận