Cây Thạch Vĩ

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây thạch vĩ
  • Tên gọi khác: Thạch bì, Thạch lan, Phi đao kiếm, Kim tinh thảo
  • Tên khoa học: Pyrrhosia lingua (Thunb.) Farwell (Cyclophorus lingua Desv., Polypodium lingua Siv)
  • Họ: Polypodiaceae
  • Nơi sống: Cây thạch vĩ mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta: thường gặp mọc bám ở các cây to hoặc trên các bức tường cũ nát. Còn thấy mọc cả ở Trung Quốc (Phúc Kiến, Đài Loan, Triết Giang, Giang Tô, An Huy, Hoa Nam), Nhật Bản.

Cây Thạch Vĩ

II. Đặc điểm của cây

  • Cây thạch vĩ là một loại dương xỉ nhỏ, có thân rễ nằm ngang, dài tới 0,5m, dày vào khoảng 4mm, có nhiều nhánh phân chia theo lối đơn túc.
  • Trên thân rễ có nhiều vẩy to, ở mặt dưới từng quãng có nhiều rễ hình sợi, phân nhánh mọc đối. lá có hai loại: lá bất thụ và hữu thụ.
  • Lá hữu thụ có cuống dài tới 9cm, phiến lá hình lưỡi mác rộng, dài 11-13cm, rộng 2-3cm. mặt trên nhẵn màu xanh lục, mặt dưới màu nâu nhạt có nhi u ổ tử nang phủ khắp trừ trên gân giữa. nhìn qua kính kiển vi ta sẽ thấy ổ tử nang cấu tạo bởi một đám tử nang phân cách nhau bởi những lông hình sao có cuống dài.
  • Các lá bất thụ có cuống ngắn hơn, độ 5cm, với phiến lá hình trái xoan hơi hình mác, dài khoảng 9-11cm, rộng 3-4cm. Mặt trên màu lục nhạt, mặt dưới màu lục nâu, gân lá hình lông chim. Cả hai mặt đều nhẵn.
Xem thêm:  Cây Kim Ngân

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Tính vị theo tài liệu cổ: vị đắng ngọt, hơi hàn, vào 2 kinh phế và bang quang. Có tác dụng lợi tiểu, thông lâm, thanh thấp nhiệt. làm thuốc lợi tiểu. Vị thuốc mới thấy dùng trong phạm vi dân gian.
  • Người ta dùng thạch vĩ làm thuốc lợi tiểu, dùng trong trường hợp tiểu tiện ra sỏi, tiểu tiện ra máu, viêm niệu đạo, bàng quang. Còn dùng làm thuốc bổ, thân rễ chữa bệnh thận, ung nhọt, lở loét, ngộ độc do lưu huỳnh.
  • Nấu với dầu, bôi lên nơi tóc không mọc để chữa bệnh tóc rụng

Viết một bình luận