Cây Sơn Thục

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây sơn thục
  • Tên gọi khác: Ráy gai, Rau mác gai, Rau chân vịt, Khoai sọ gai, Sơn thục gai, Cây cừa, Mớp gai, Củ chóc gai
  • Tên khoa học: Lasia spinosa (L.) Thw. – Dracontium spinosum L.; Lasia aculeata Lour.
  • Họ: Araceae

Cây Sơn Thục

II. Đặc điểm của cây

  • Cây thảo, cao 0.4 – 0.7, Thân rễ nằm ngang, chia nhiều đốt.
  • Lá mọc thẳng từ thân rễ, mép nguyên, lá non hình mũi tên, lá già xẻ lông chim, các thùy hình mác, đầu nhọn, mắt dưới có gai ở gân giữa; cuống lá mập, dài hơn phiến lá, phủ dầy gai, gốc có bẹ.
  • Cụm hoa là mọt bông mo, có cuống dài hơn hoặc bằng mo, có gai; mo mở ở phần gốc và xoắn lại ở phần trên, trục hoa hình trụ ngắn, mang toàn hoa toàn lưỡng tính; bao hoa có 4-6 thùy, nhị 4-6,chỉ nhị ngắn; bầu hình trứng.
  • Quả mọng, có gai ngắn ở đỉnh.
  • Mùa hoa quả: tháng 3-4

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Thân rễ ráy gai có vị cay, tính ấm, có tác dụng tiêu đờm, trừ suyễn như vị bán hạ và thanh nhiệt, giải độc.
  • Nhân dân ở vùng có sơn thục mọc thường hái lá non về làm rau ăn, luộc hoặc muối dưa. Theo kinh nghiệm nhân dân, ráy gai thường được dùng chữa ho, đau bụng, phù thũng, tê thấp, lưng, đầu gối đau, bàn chân tê buốt, suy gan, di chứng do sốt rét.
  • Trong kháng chiến chống Mỹ, bộ đội miền Đông Nam Bộ đã dùng rộng rãi sơn thục để chữa viêm gan, vàng da, cơ thể suy nhược sau khi bị sốt rét có kết quả tốt. Năm 1973, xưởng dược X5 thuộc phòng quân y- B2 đã sản xuất viên sơn thục, dùng điều trị trên lâm sàng và viên sơn thục phối hợp với bột nghệ để làm thuốc bổ gan.
  • Ở Trung Quốc, sơn thục được dùng chữa ho, phế nhiệt, nước tiểu vàng đỏ. Ở Malaysia, ráy gai là một thành phần trong bài thuốc chữa ho. Ở Indonesia, nước hãm của rễ dùng cho đàn bà sau khi đẻ, nước sắc rễ và thân chữa các cơn đau thắt.
Xem thêm:  Cây Sơ Ri

Viết một bình luận