Cây Sơn Đậu

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây sơn đậu
  • Tên gọi khác: Hòe bắc bộ
  • Tên khoa học: Sophora tonkinensis Gagnep.
  • Họ: Fabaceae
  • Nơi sống: Sơn đâu chỉ thấy phân bố ở Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu – Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Ở Việt Nam, sơn đậu cũng chỉ có ở một vài điểm thuộc vùng núi phía bắc giáp Trung Quốc. như xã Quyết Tiên, Bát Đại Sơn, Thái An – huyện Quản Bạ và xã Mèo Vac – huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang.

Cây Sơn Đậu

II. Đặc điểm của cây

  • Cây nhỏ, cao vài mét, mọc thành bụi, phân cành nhiều. Rễ mập phân nhánh. Thân hình trụ tròn. Thân, lá, hoa đều có lông mềm màu vàng.
  • Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, gồm 15-31 lá chét mọc đối, hình bầu duc dài 3-4 cm, rộng 1-2 cm, gốc tròn hoặc hơi bằng, đầu nhọn, mặt trên nhẵn hơi bóng, mặt dưới hơi có lông.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá và ngọn thân thành chùm dựng đứng, dài 8-10 cm gồm nhiều hoa màu vàng nhạt, lá bắc dễ rụng, đài hình chuông có lông ở mặt ngoài, có răng ngắn, tràng có móng ngắn, cánh thìa tù, nhị hơi dính nhau ở gốc, bầu có lông.
  • Quả đầu có lông mềm, thắt lại giữa các hạt, hạt màu đen bóng.
  • Mùa hoa quả: tháng 6 – 8.
Xem thêm:  Hoa Hồng Claude Monet Rose

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Rễ sơn đậu có vị đắng, tính hàn, vào 3 kinh tâm, phế, đại trường, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu sưng, tiêu thũng, giảm đau, sát trùng.
  • Rễ sơn đậu được dùng chữa mụn nhọt độc, môt số chứng sốt, ho, viêm họng, phù thũng. Vỏ rễ sơn đậu sao vàng chữa kiết lỵ, đau bụng, ngô đôc, cũng thường tán bột làm viên uống. Dùng ngoài, rễ hoặc cả cây sơn đậu nấu nước thật đăc để rửa, hoặc phơi khô, tán bột, hoà với dầu vừng bôi chống lở loét, mụn nhọt, trĩ các vết thương nhỏ do các con vật cắn.
  • Kiêng kỵ : Người có tỳ vị hư hàn, đái tháo đường không dùng.
  • Ở Trung Quốc, có nơi người ta dùng rễ sơn đậu trị ung thư. Ở một số nước khác, rễ sơn đậu chữa viêm họng, ho, vàng da… táo bón, sưng mộng răng. Dùng ngoài, rẽ tán bột, đắp chữa bỏng và rắn cắn.

Viết một bình luận