Cây Sòi Trắng (Sòi Nhuộm)

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây sòi trắng
  • Tên gọi khác: Sòi nhuộm, Sòi xanh, Mộc tử thụ
  • Tên khoa học: Sapium sebiferum (L.) Roxb. – Croton sebiferus L.
  • Họ: Euphorbiaceae
  • Nơi sống: Sòi trắng có vùng phân bố tương đối rộng từ Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ xuống phía nam thuộc khu vực Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây cũng phân bố rộng rãi khắp các tỉnh vùng núi (dưới 800 m), trung du và đôi khi cả vùng đồng bằng ven biển.Cây thường mọc ở rừng thứ sinh, rừng cây bụi (vùng ven biển và đảo) và đồi. Ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, sòi trắng đôi khi thấy có trong các lùm bụi quanh làng, hoặc ở bờ ao.

Cây Sòi Trắng (Sòi Nhuộm)

II. Đặc điểm của cây

  • Cây nhỡ, cao 5 – 7 m. Cành nhẵn, khi non màu lục nhạt.
  • Lá mọc so le, hình quả trám, dài 5-7 cm, rộng 4 – 6 cm, gốc có 2 tuyến nhỏ, đầu nhọn hoắt, hai mặt cùng màu lục nhạt, nhẵn, mép nguyên; cuống lá mảnh, dài 3-4 cm; lá kèm hình dải.
  • Hoa màu trắng vàng hoặc vàng mọc thành bông dài 7 – 10 cm ở kẽ lá hoặc đầu cành, đơn tính cùng gốc; hoa đực có đài hình đấu có răng nhỏ, nhị 2, bao phần gần hình cầu; hoa cái nhiều, có đài hợp chia 2 – 3 thùy, bầu hình trứng, 3 ô.
  • Quả hạch, hình cầu hơi nhọn ở đầu, đưòng kính 1 – 1,5 cm, khi chín nứt thành 3 mảnh, chứa 3 hạt.
  • Mùa hoa; tháng 3-4; mùa quả: tháng 5-7.
Xem thêm:  Cây Bạch Điệp

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Vỏ rễ và lá sòi trắng có vị đắng, tính hơi ấm, có độc, có tác dụng thông tiểu, nhuận tràng, giải độc, tiêu nước.
  • Vỏ rễ sòi trắng được dùng chửa thủy thũng, cổ trướng, đại tiểu tiện không thông và các chứng đinh độc.
  • Cao hoặc bột thuốc chế từ lá sòi trắng chữa các vết bỏng nông (bỏng lớp thượng bì, bỏng trung bì) và mới (trong khoảng 72 giờ đầu kể từ khi bị bỏng), chưa bị viêm nhiễm khuẩn mủ. Thuốc còn được chỉ định để tạo màng che phủ các vùng lấy da, các vết mổ, các đường khâu mổ vô khuẩn. Sáp của hạt sòi chữa bệnh ngoài da.
  • Trong y học cổ truyền Trung Quốc, sòi trắng được dùng để điều trị viêm âm đạo, bệnh sán máng, viêm gan có tính chất truyền nhiễm, bụng trướng nước, hoàng đản.
  • Trong y học dân gian Ấn Độ, dầu béo từ hạt là thuốc gây nôn, tẩy, lợi tiểu, tiêu thũng, vả chữa vết thương, bệnh ngoài da. Nước sắc vỏ rễ chữa khó tiêu và làm thuốc bổ. Nhựa từ vỏ rễ có tác dụng tẩy.

Viết một bình luận