Cây Sau Trắng

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây sau trắng
  • Tên gọi khác: Sau sau, Thau, Phong hương
  • Tên khoa học: Liquidambar formosana Hance – L. tonkinensis A. Chev.
  • Họ: Altingiaceae
  • Nơi sống: Sau sau là cây bản địa của vùng Trung, Nam – Trung Quốc và Đông Bắc Việt Nam, Lào. Ở Việt Nam, sau sau tập trung nhiều ở vùng núi thấp và trung du, thuộc tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Hà Tây và Hòa Bình, không thấy có ở các tỉnh phía nam.

Cây Sau Trắng

II. Đặc điểm của cây

  • Cây to, cao 20 m hay hơn. Thân to, mọc  đứng, cành non có lông râm, sau nhẵn.
  • Lá mọc so le, đài 13cm. rộng 19 cm, chia 3 thùy nông hình chân vịt, gốc tròn hoặc hơi hình tim, đầu thuôn nhọn, mép khía răng đều, lá non màu hồng phủ nhiều lông hình sao, cuống lá dài 5 – 8 cm, lá kèm hình dài sớm rụng, lá rụng vào mùa đông và mọc lại sau khi cây ra hoa.
  • Hoa đơn tính cùng gốc, mọc ở gần đầu cành; cụm hoa đực dài 4 – 5 cm gồm những hoa trần có 1 nhị hợp với lá bắc thành đầu, các đầu tụ họp thành bông dài màu đỏ, cụm hoa cái dài 2 – 4 cm, hình cầu gồm nhiều hoa không có tràng, bầu hạ 2 ô.
  • Quả kép hình cầu do nhiều quả nang họp lại, đường kính 2 – 3 cm, mang lá dài và lá bắc khô xác, cuống dài 3 – 9 cm, hạt hình bầu dục, có cánh.
  • Mùa hoa quả: tháng 5 – 7.
Xem thêm:  Những Loại Cây Không Nên Trồng Trong Nhà Tránh Gây Ảnh Hưởng Xấu

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Qủa sau sau có vị đắng, tính bình, mùi thơm, có tác dụng khử phong, hoạt lạc, lợi thủy, thông kinh. Lá có vị đắng, tính bình, có tác dụng thông khiếu, khai uất, khử đàm, và cũng có tác dụng hoạt huyết giảm đau, chỉ huyết sinh cơ, rễ có vị đắng, tính ấm, cá tác dụng khử thấp, chỉ thống.
  • Quả sau sau được dùng chữa phong thấp , đau nhức khớp xương, tâm vị trướng đau, thủy thũng, đáì khó, kinh nguyệt không đều, thiếu sữa, mày đay, viêm da, chàm.
  • Lá chữa viêm ruột, lỵ , đau vùng thượng vi, thổ huyết, chảy máu cam, dùng ngoài trị mẩn ngứa, eczema.
  • Nhựa  trị ho có đờm, kinh giản, thổ huyết, nôn ra máu, khạc ra náu, chảy máu cam; dùng ngoài bôi chữa vết thương chảy máu, đòn ngã tổn thương. Nhựa còn được dùng uống để trị mụn nhọt và đau răng. Rễ chữa thấp khớp và đau răng.
  • Trong y học  cổ truyền và dân gian Trung Quốc, sau sau được dùng làm thuốc giảm đau và sát trùng. Dùng uống trị viêm ruột và lỵ, trực khuẩn, phối hợp  với các vị khác làm thuốc long đờm trong điều trị lao. Dùng ngoài làm thuốc sát trùng trị bệnh mủ da. ghẻ và bệnh nấm tóc.
  • Quả sau sau được dùng ở Đài Loan làm thuốc bảo vệ gan. Ở Ấn Độ, nhựa thơm sau sau được  dùng làm thuốc long đờm và sát trùng, và làm thuốc bớt dẻo trị ghẻ và những bệnh ký sinh trùng ngoài da khác. Hiện nay, ít được dùng trong y học.
Xem thêm:  Cây Cau

Viết một bình luận