Cây Riềng Nếp

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây riềng nếp
  • Tên gọi khác: Riềng nếp
  • Tên khoa học: Alpinia galanga (L.) Stuntz – Languas galanga (L.) Stuntz, Maranta galanga L
  • Họ: Zingiberaceae
  • Nơi sống:

Riềng nếp phân bố rải rác ở một số vùng thuộc Ấn Độ, Trung Quốc và Lào. Ở Việt Nam, cây vừa mọc tự nhiên, vừa được trồng. Riềng nếp mọc tự nhiên nhiều nhất ở các tỉnh Lai Châu (Tuần Giáo, Điện Biên, Tủa Chùa); Sơn La (Mường La, Sông Mã); Lào Cai (Văn Bàn, Than Uyên); Hòa Bình (Mai Châu). Cây cũng phân bố ở một số tỉnh vùng núi khác ở miền Bắc và có thể ở cả Tây Nguyên.

Riềng nếp là cây đặc biệt ưa ẩm, có thể hơi chịu bóng; thường mọc rải rác ở kiểu rừng kín thường xanh ẩm, nhất là dọc theo các bờ suối, ven rừng hoặc rừng thưa trong thung lũng. Độ cao phổ biến từ 300 đến 600 m hoặc hơn.

Cây Riềng Nếp

II. Đặc điểm của cây

  • Cây thảo, cao khoảng 2 m hoặc hơn. Thân rễ to, đường kính 2 – 3 cm, màu hồng nhạt.
  • Lá mọc so le, xếp thành hai dãy đều, hình mũi mác, dài 35 – 40 cm, rộng 5-7 cm, gốc thót lại, đầu thuôn nhọn, mép có viền trắng, hai mặt nhẵn, mặt trên bóng; cuống lá hầu như không có, lưỡi bẹ tròn, nguyên.
  • Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành chùy phân rất nhiều nhánh; lá bắc hình mác dễ rụng, lá bắc con hình dải; hoa màu trắng có vạch hồng; dài hình ống, có 3 răng; tràng hình ống, có cánh lõm, cánh môi hình dải-trái xoan, có móng hẹp, chia 2 thùy ở đầu; nhị lép hình giùi; bầu có lông.
  • Quả mọng, hình cầu, khi chín màu đỏ nâu, chứa 3-5 hạt bóng.
  • Mùa hoa quả: tháng 5-7.
Xem thêm:  Cây É Trắng

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Riềng nếp có vị cay, tính ôn, vào hai kinh tỳ và vị, có tác dụng ôn trung, tán hàn, hết đau, tiêu thực.
  • Riềng nếp được dùng như riềng ấm chữa đau bụng, tiêu chảy, nôn mửa, lỵ và phối hợp với than tóc rối uống chữa ngộ độc thịt cóc. Riềng nếp muối dùng một nhúm ngậm, cắn nhẹ và nuốt dần dần làm khỏi khát, đỡ mệt khi làm việc mệt nhọc hoặc đi nắng nhiều khát nước.
  • Thân rễ riềng nếp được ghi trong được điển nhiều nước châu Âu, và được dùng rộng rãi trong y học cổ truyền trị bệnh da, bệnh hô hấp, làm thuốc lợi tiêu hóa sau khi đẻ, khó tiêu, đầy hơi, cơn đau bụng, lỵ, nhiễm khuẩn toàn thân, bệnh dịch tả và làm thuốc long đờm.
  • Ở Trung Quốc, Lào và Campuchia, thân rễ được uống chống co giật, gây trung tiện và long đờm, trị lỵ, trị viêm phế quản, và dùng ngoài trị thấp khớp, ở Thái lan, thân rễ được dùng trị nhiều bệnh, làm thuốc lọc máu, trị khó tiêu, dụng dập, tiêu chảy, nhiễm khuẩn uốn ván, sốt rét mạn tính, bệnh tê phù, ghẻ cóc, đau dạ dày, bệnh dịch tả, ngứa, nấm da, bệnh da, chốc lở, mày đay, đau răng, trị giun, chống co thắt, gây trung tiện, đầy hơi.
  • Ở Philippin, thân rễ được dùng gây trung tiện, kích thích và nước sắc lá dùng làm nước tắm thấp khớp. Ở Indonesia, thân rễ nạo nhỏ trộn với ít muối uống lúc đói tri lách to, và nước ngâm thân rễ uống trị bệnh phong, ở Malaysia, hạt được dùng trị cơn đau bụng, tiêu chảy, nôn và bệnh herpes, nước hãm lá dùng cho phụ nữ uống sau khi đẻ.
  • Trong y học dân gian Ấn Độ, thân rễ dùng tn đầy hơi, khó tiêu, thấp khớp và bệnh viêm xổ, đặc biệt trong viêm xổ phế quản, và cùng với hồ tiêu và gừng trị sốt. Cao lá dùng bôi trị ngứa và bệnh dị ứng da.
Xem thêm:  Cây Gấc

Viết một bình luận