Cây Quyển Bá

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây quyển bá
  • Tên khoa học: Selaginella ssp.
  • Họ: Quyển bá (Selaginellaceae)
  • Nơi sống:Loài quyển bá tràng chim phân bố ở Trung Quốc, Việt Nam, Lào. Ở Việt Nam, cây mọc phổ biến ở các tỉnh vùng núi có độ cao 600m trở lên (ở miền Bắc) và khoảng trên 800m (ở miền Nam). Cây ưa bóng và ưa ẩm, thường mọc ở đất hay các khe đá, dưới tán rừng kín thường xanh ám hoặc rừng núi đá vôi, tái sinh tự nhiên bằng bào tử và đẻ nhánh nhiều ở gốc. Loài nàỵ gặp nhiều ở Thái Nguyên, Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình…Loài quyển bá trường sinh lại ưa sáng, chịu hạn tốt, thường mọc bám trên đá hay đất khô cằn lẫn nhiều sỏi đá. Cây phân bố chủ yếu ở một số vùng đồi và núi thấp thuộc các tỉnh ven biển, nhất là ở Trung Bộ như Khánh Hoà, Phú Yên, Bình Thuận, Ninh Thuận… Cây cũng phân bố ở Trung Quốc và đảo Hải Nam.

Cây Quyển Bá

II. Đặc điểm của cây

  • Quyển bá tràng chim (Selaginella involvens (Sw.) Spring, S. caulescens (Wall.) Spring), tên khác là quyển bá, giào bát; tên nước ngoài : little clubmoss (Anh), sélaginelle (Pháp).

Cây thảo mọc bò, sống lâu năm. Thân đứng hoặc nằm, hình trụ, mang nhiều giá rễ, phân nhánh bằng cách chẽ đôi, cao 10-15 cm, các nhánh đều nằm trên một mặt phẳng.

Xem thêm:  Hoa Hồng Catalina Rose

Lá nhỏ rất nhiều, không đều, lá ở gốc thân chính mọc cách xa nhau; lá ở cành mọc sít nhau, khía răng và bạc trắng ở mặt dưới.

Bông sinh bào tử thường đơn, mọc ở cuối các cành nhỏ, có 4 cạnh, dài 4-20 mm; lá mang bào tử hình trái xoan – tam giác, có răng, bào tử lớn có màu nâu, bào tử nhỏ màu vàng, cam.

Mùa sinh sản: tháng 10 – 12.

  • Quyết bá trường sinh (Selaginella tamariscina (Beauv.) Spring), tên khác là trường sinh thảo, hồi sinh thảo, cải tử hoàn hồn thảo, hoàn dương thảo, cây chân vịt, móng lưng rỗng, rong Nha Trang, vạn niên tùng, nhả mung ngựa (Thái), cua mù súa (H’Mông).

Cây thảo, rễ rất nhiều bện lại với thân thành một búi hình trụ, cao khoảng 10 cm. Cành dài 5-12 cm, mang nhiều lá xếp lợp.

Lá rất đa dạng; lá bên hình giáo có lông, lá ở kẽ hình tam giác – thuôn, có mép rộng, lá ở giữa có mép không đều. Các cành mang lá thường cuộn tròn vào trong trông như một túm cây khô, khi trời nắng hanh, nếu gặp mưa hoặc thời tiết ẩm ướt, cành lại mọc vươn ra phía ngoài.

Bông sinh bào tử mọc ở đầu cành, gần hình bốn cạnh; lá bào tử hình tam giác, mép rộng; bào từ lớn màu trắng, bào tử nhỏ màu vàng nhạt.

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • quyển bá có vị cay, hơi đắng, tính lạnh (để sống) hoặc tính bình (sao).
  • Dược liệu sống có tác dụng hoạt huyết, sao lại chỉ huyết (cầm máu).
  • quyển bá dùng sống chữa huyết bế thành hòn cục, ung thư, vô kinh, bỏng lửa. Quyển bá sao hoặc nướng chữa đi ngoài phân đen, tử cung xung huyết, trĩ xuất huyết, đái ra máu, ho ra máu, nôn ra máu, kinh nguyệt quá nhiều.
Xem thêm:  Cây Thần Kỳ

Viết một bình luận