Cây Nhục Đầu Khấu

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây nhục đầu khấu
  • Tên gọi khác: Nhục quả
  • Tên khoa học: Myristica fragrans Houtt
  • Họ: Myristicaceae
  • Nơi sống: Nhục đậu khấu có nguồn gốc ở vùng đảo Molucca ở Thái Bình Dương, được nhập trồng vào đất liền ở khắp vùng nhiệt đới Nam Á và Đông – Nam Á. Ở Việt Nam cây chủ yếu được trồng ở các tỉnh phía nam.

Cây Nhục Đầu Khấu

II. Đặc điểm của cây

  • Cây nhỡ hoặc cây to, cành non hình tròn, vỏ ngoài nhăn nheo, hơi có khía, màu nâu xám.
  • Lá mọc so le, có cuống ngắn, hình bầu dục hoặc hình mác, dài 5 – 15cm, rộng 3 – 7cm, gốc tròn, đầu nhọn, mặt trên nhẵn, mặt dưới phủ lông tơ, dày hơn ở lá non và có gân nổi rất rõ.
  • Cụm hoa đực dài 1 – 3 cm, mọc ở kẽ lá gồm 3-20 hoa; lá bắc rất nhỏ, bao hoa hình trứng, có lông, chia 3 thùy (đôi khi 4); nhị xếp thành cột có đế dày, nhẵn, bao phấn thuôn; cụm hoa cái mọc ở kẽ lá gồm 1-2 hoa, lá bắc rõ, bao hoa hình trứng rộng, có lông ở mặt ngoài, chia 3 thùy ở đầu, bầu có lông mịn, 1 ô.
  • Quả thường đơn độc, có cuống ngắn, đôi khi mang bao hoa tồn tại; hạt hình trứng có áo và nhân màu trắng.
  • Mùa hoa quả: tháng 4 – 8.
Xem thêm:  Cây Xoài

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Nhục đậu khấu có vị cay, đắng, hơi chát, mùi thơm, tính ấm, có độc, vào 3 kinh tì, vị và đại tràng, có tác dụng ôn tì, thu sáp, chỉ nôn, chỉ tả, lỵ, tiêu thực.
  • Nhục đậu khấu được dùng trong y học cổ truyền và y học hiện đại, để chữa các bệnh đường tiêu hóa như kiết lỵ, tiêu chảy mất trương lực, đau bụng, đầy hơi, tiêu hóa kém, buồn nôn, nôn, suy mòn. Ở Ấn Độ, nhục đậu khấu còn được dùng để kích dục, gây sẩy thai.
  • Nhục dậu khấu và bơ nhục đậu khấu được dùng xoa bóp ngoài chữa tê thấp mạn tính, đau người, đau dây thần kinh tọa.
  • Áo hạt là thuốc bổ máu với liều dùng gấp dôi. Gỗ cây có tác dụng hạ sốt, bổ phổi và gan.
  • Dầu nặng của nhục đậu khấu được dùng để tẩy giun, chế thuốc mỡ kích thích tóc mọc, thuốc uống nhuận tràng.

Viết một bình luận