Cây Ngưu Tất

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây ngưu tất
  • Tên gọi khác: Cỏ xước, Hoài ngưu tất
  • Tên khoa học: Achyranthes bidentata Blume
  • Họ: Amaranthaceae
  • Nơi sống: Ngưu tất có nguồn gốc ở vùng Đông Bắc Trung quốc hoặc Nhật Bản. Cây đã được thuần hóa và trồng từ lâu đời ở những nước này.

Cây Ngưu Tất

II. Đặc điểm của cây

  • Cây thảo cao khoảng 60cm – 1m. Cây sống nhiều năm. Thân mảnh,có cạnh, hơi vuông, thường chỉ cao 1m, cũng có khi tới 2m,phình lên ở những đốt, màu lục hoặc nâu tía. Cành thường mọc thẳng đứng.
  • Lá mọc đối có cuống, hình trứng, đầu nhọn, gốc thuôn hẹp, mép nguyên dài 5 – 12 cm, rộng 2 – 4 cm, hai mặt nhẵn, mép nguyên đôi khi uốn lượn, gân lá mặt trên thường có màu nâu tía, cuống lá dài 1 – 1.5cm.
  • Rễ củ hình trụ dài, có nhiều rễ phụ to.
  • Cụm hoa là bông ở đầu cành hay ké lá, dài 2 – 5 cm. Hoa mọc hướng lên nhưng khi biến thành quả sẽ mọc quặp xuống. lá bắc dài 3 mm, lá đài 5, gần bằng nhau, nhị 5, chỉ nhị dính với nhau và dính cả với nhịp lép, nhị lép có răng rất nhỏ, bao phấn hình mác, chim, bầu hình trứng.
  • Quả nang hình bầu dục có một hạt, lá bắc còn lại và nhọn thành gai cho nên vướng phải có thể mắc vào quần áo.
  • Mùa hoa quả: tháng 5 -7.
Xem thêm:  Củ Bình Vôi

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Ngưu tất có vị đắng chua, tính bình, không độc, vào 2 kinh can và thận. Dạng sống có tác dụng hành huyết tan ứ, tiêu ung lợi thấp. Dạng chín có tác dụng bổ can, ích thân, cường gân tráng cốt.
  • Ngưu tất dạng sống chữa cổ họng sưng đau, mụn nhọt, đái rát buốt, đái ra máu hoặc sỏi, bế kinh, bụng dưới kết hòn cục, đẻ khó hoặc khi đẻ rau thai  không ra, sau khi đẻ ứ huyết gây đau bụng, chấn thương, ứ máu bầm, đầu gối nhức mỏi.
  • Ngưu tất sao tẩm chữa can thận hư, ù tai, đau lưng, mỏi gối, tay chân co quắp hoặc bại liệt.
  • Phụ nữ có thai, băng huyết không nên dùng ngưu tất. Trong y học Trung Quốc, rễ ngưu tất dưới dạng nước sắc được sử dụng làm thuốc phục hồi sức lực, lợi tiểu, chữ bế kinh, đau kinh, tăng huyết áp, thấp khớp, sỏi đường tiết niệu, viêm họng, viêm amidan.
  • Ngoài ra, nó còn được dùng làm thuốc kích thích tình dục, tráng dương, chữa liệt dương, gây sảy thai. Dùng ngoài, nước sắc ngưu tất chữa các bệnh về da chân và các móng (bệnh nấm biểu bì).
  • Hạt được dùng làm thuốc chống độc, chữa thấp khớp, hen phế quản (phối hợp với một số dược liệu khác). Phụ nữ có thai không được dùng.

IV. Cách trồng và chăm sóc cây

  • Giống: giống Ngưu tất trồng ở Việt Nam là giống Ngưu tất được di thực từ Trung quốc năm 1960. Chuẩn bị hạt giống cho sản xuất: hạt giống cần phải được chuẩn bị tốt, trước khi vào vụ gieo trồng cần thử lại tỷ lệ mọc mầm để xác định lượng hạt gieo. Thông thường loại hạt giống có tỷ lệ mọc mầm trên 80% thì 1Ha gieo trồng cần 8­9 kg hạt.
  • Thời vụ trồng: thời vụ gieo trồng tốt nhất từ 15/9 -­15/10.
  • Làm đất: cày 2­3 lần để đất có độ sâu 35 cm, bừa kỹ làm nhỏ đất, làm sạch cỏ dại, cày chia luống rộng 1,4m, lên luống sơ bộ, rải đều toàn bộ lượng phân chuồng lên mặt luống, sau đó lên luống tiếp, vét sạch rãnh để luống đạt độ cao 40cm, san phẳng và đập nhỏ đất mặt luống.
  • Gieo hạt: rải đều hạt lên mặt luống với lượng 8­9kg/ha, reo xong phủ rơm, rạ, hoặc trấu và tưới ẩm hang ngày băng thùng tưới có doa.
  • Chăm sóc: yêu cầu đất thường xuyên đủ ẩm. Sau khi mọc 20 ­25 ngày cây có hai đôi lá , cần tiến hành làm cỏ, tỉa cây để khoảng cách giữa các cây 4 ­5cm, kết hợp với bón thúc phân NPK, lượng phân 10kg/ sào , cách làm: rắc đều lượng phân trên luống, dung cành cây khỏa nhẹ để phân rơi xuống gốc, sau đó tưới nước lã để phân không làm chết cây.
  • Phòng trừ sâu bệnh: Sâu bệnh hại xuất hiện ở thời kỳ cây non và cây trưởng thành, phòng trừ như sau:
Xem thêm:  Cây Ba Chẽ

Phòng trừ sâu: sâu xám cắn mầm non, bắt bằng tay vào sang sớm. Sâu cuốn là, sâu xanh, rệp hại lá cây trưởng thành dung thuốc Sherpa 25%.

Bệnh lở cổ rễ hại cây lúc mới trồng, phòng tránh bằng cách giữ độ ẩm vừa phải, ruộng luôn sạch cỏ dại, tỉa cây đúng lúc, không để cây mọc quá dày, không để đất và quần thể cây quá ẩm.

Viết một bình luận