Cây Ngũ Trảo

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây ngũ trảo
  • Tên gọi khác: Mẫu kinh, Ô liên mẫu
  • Tên khoa học: Cayratia japonica (Thunb.) Gagnep. – Vitis japonica Thunb.
  • Họ: Vitaceae
  • Nơi sống: Ngũ trảo chỉ thấy ở châu Á, bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Philippin, Indonesia và Việt Nam. Ở Việt Nam, ngũ trảo phân bố rải rác khắp các vùng núi, từ độ cao 500 – 1000m ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Yên Bái, Lai Châu, Hòa Bình, Nghệ An, Vĩnh Phúc và Thái Nguyên. Đôi khi ngũ trảo mọc lẫn trong các lùm bụi quanh làng, bờ nương rẫy của vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Theo Võ Vãn Chi (1997), cây phân bố đến tận vùng núi tỉnh Kon Tum, Đắc Lắc và Lâm Đồng.

Cây Ngũ Trảo

II. Đặc điểm của cây

  • Cây nhỏ leo, nhẵn hoặc có ít lông. Thân cành hình trụ. có khía; tua cuốn chia 2-3 nhánh.
  • Lá mọc so le, kép chân vịt gồm 5 lá chét hình trái xoan, dài 5 – 8cm, rộng 3 – 4cm, gốc tròn, đầu nhọn, lá chét tận cùng dài hơn, tất cả các lá chét đều nhẵn hoặc có lông ở mặt dưới, gân lá chằng chịt thành mạng lưới rõ, mép có răng tù hơi nhọn; cuống chung dài 2 – 5cm; lá kèm hình tam giác tù.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành ngù hay tán, rộng 6 – 10cm; hoa màu trắng; đài hình đấu hơi có 4 răng; tràng 4 cánh; nhị 4; bầu nhẵn.
  • Quả hình cầu, hơi thắt lại ở gốc; hạt 3-4, nhăn ở mặt lưng. Mùa hoa quả: gần như quanh năm.
Xem thêm:  Cây Lấu

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Ngũ trảo có vị đắng, chua, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tán ứ, lợi niệu, tiêu thũng.
  • Theo kinh nghiệm dân gian, toàn cây ngũ trảo được dùng làm thuốc chống viêm. Rễ tươi giã nát, đắp chữa sưng vú, chữa tê thấp.
  • Ở Đông Nam Á, người ta dùng những phần khác nhau của cây ngũ trảo để trị sốt. Ở Malaysia, lá ngũ trảo sắc với một củ hành tây và vôi, đắp lên đầu trị nhức đầu dữ dội. Hoa khô tán bột dùng trị sốt. Ở Indonesia, người ta dùng phần trên mặt đất của cây ngũ trảo để trị sốt và sốt rét. Ở đảo Solomon, nhân dân lại dùng lá xát vào bụng phía trên dạ dày để trị táo bón.
  • Ở Trung Quốc, rễ hoặc phần trên mặt đất được dùng trị sốt, làm tiêu độc tố trong bệnh quai bị, vàng da, lỵ và chống sưng tấy trong thấp khớp. Cây còn được dùng chữa viêm họng, ghẻ lở, mụn nhọt, viêm thận phù thũng, vàng da, lỵ, đòn ngã tổn thương. Rễ được dùng trị ung thư và làm thuốc lợi tiểu trị tiểu tiện ra máu. Nước sắc rễ trị viêm vú. Lá tán bột trị bọ cạp và rết cắn.
  • Ở Ấn Độ, quả ngũ trảo được dùng làm thuốc đắp trị sưng tấy và những chỗ đau nhức, vỏ thân là thuốc giải độc.
Xem thêm:  Cây Rau Khúc

Viết một bình luận