Cây Mỏ Quạ

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây mỏ quạ
  • Tên gọi khác: Hoàng lồ, Cây bướm, Sọng vàng, Gai vàng lồ, Gai mang, Móc câu
  • Tên khoa học: Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur
  • Họ: Moraceae
  • Nơi sống: Mỏ qụa phân bố ở những nước có khí hậu nhiệt đới (Đông Phi, Châu Á, Châu Úc). Ở nước ra, cây mọc nhiều ở Đồng Nai, Lâm Đồng, Quảng Trị, Vĩnh Phúc và Lào Cai.

Cây Mỏ Quạ

II. Đặc điểm của cây

  • Cây nhỏ thân mềm yếu nhiều cành, tạo thành bụi, có khi mọc thành cây nhỡ, chịu khô hạn rất khoẻ, có nhựa mủ trắng, rễ hình trụ có nhiều nhánh, mọc ngang, rất dài, nếu gặp đá có thể xuyên qua được (do đó có tên Xuyên phá thạch có nghĩa là phá chui qua đá).
  • Vỏ thân màu tro nâu (trên có nhiều bì khổng màu trắng, thân và cành có rất nhiều gai, gai già hơi cong xuống trông như mỏ con quạ (do đó có tên cây mỏ quạ).
  • Lá mọc cách, hình trứng thuôn, hai đầu nhọn, mặt lá nhẵn, bóng, mép nguyên. Nhấm có vị tê tê ở lưỡi (đặc điểm).
  • Cụm hoa hình cầu, đường kính 7-10mm, màu vàng nhạt, mọc thành đôi hay mọc đơn độc ở kẽ lá. Hoa đơn tính, đực cái khác gốc. Mùa hoa tại Hà Nội là tháng 4.
  • Quả màu hồng hợp thành quả kép.
  • Mùa quả tháng 10-11.
Xem thêm:  Cây Muồng Một Lá

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Theo Đông y, rễ mỏ quạ có vị đắng tê, tính hơi mát; vào kinh phế; tác dụng khứ phong, hoạt huyết phá ứ, làm mát phổi, giãn gân; chữa ho, ứ tích lâu năm, bế kinh, đòn đánh bị thương, phong thấp. Lá mỏ quạ chữa vết thương phần mềm.
  • Tại Thái Lan, người dân sử dụng thân gỗ của cây mỏ quạ để trị ỉa chảy, sốt mãn tính và làm thuốc bồi bổ sức khỏe.
  • Cây cũng được trồng làm hàng rào ở những đồi hoang hay đất vườn.

Viết một bình luận