Cây Mè Lai

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây mè lai
  • Tên gọi khác: Dầu lai, Dầu mè tía
  • Tên khoa học: Jatropha gossypiifolia L
  • Họ: Euphorbiaceae
  • Nơi sống:Mè lai có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, từ Mexico đến Paraguay; sau được du nhập và phát triển trồng ở khắp các vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và nhiều đảo khác ở Thái Bình Dương.Ở Việt Nam, mè lai là cây trồng, song cũng có thể thấy cây đã trở nên hoang dại hóa ở nhiều tỉnh thuộc vùng trung du và núi thấp của miền Bắc, như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Tây, Quảng Ninh…

Cây Mè Lai

II. Đặc điểm của cây

  • Cây nhỏ, cao 1 – 2m. Lá mọc so le, chia 3 thùy, đôi khi 5 thùy, gần như tròn, đường kính 12 – 15cm, gốc hình tim rộng, đầu hơi nhọn, mép có lông mi dạng tuyến rất nhỏ; cuống lá dài bằng phiến cũng có lông dạng tuyến; lá kèm xẻ.
  • Cụm hoa mọc thành chùy; lá bắc thuôn; hoa màu đỏ, đơn tính; hoa đực có lá dài hình trái xoan có lông ở mặt ngoài; cánh hoa nhẵn, nhị một bó; hoa cái có lá đài hơi dài hơn ở hoa đực, cánh hoa giống hoa đực; bầu có lông.
  • Quả nang, hình cầu nhẵn, bằng ở hai đầu, có 3 khía; hạt màu xám đỏ, điểm chấm đen. Mùa hoa quả: tháng 4-6.
Xem thêm:  Hoa Hồng Tố Nữ

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Dầu hạt mè lai được dùng bôi ngoài trị bệnh phong. Nhựa cây bôi chữa rắn cắn. Lá sắc uống chữa ho khan. Còn dùng lá mè lai, lá vạn niên thanh và củ ngô đồng nấu thành cao để làm thuốc dán.
  • Ở một số nước Đông Nam Á, nhựa mủ mè lai được dùng ngoài trị loét, lá tươi giã đắp trị sưng vú. Lá dùng uống trị bệnh sốt từng cơn hoặc nấu nước tắm trị sốt. Nước sắc lá là thuốc tẩy, làm dễ tiêu, trị bệnh về tai và hoa liễu, thuốc lọc máu. Lá đắp ngoài trị mụn nhọt, eczema và ngứa. Rễ trị bệnh phong và nước sắc vỏ cây có tác dụng điều kinh.
  • Mè lai được dùng ở Ấn Độ trị bệnh đường tiết niệu, nước sắc vỏ cây để điều kinh, nước sắc lá trị đau dạ dày, bệnh hoa liễu và đổ lọc máu. Lá dùng đắp trị mụn nhọt, ngứa, eczema, dịch ép lá bôi trị loét lưỡi trẻ nhỏ, lá tươi đắp tật sưng vú. Ở Nepal, nhân dân trị đau răng bằng nhựa mủ mè lai.
  • Ở Haiti, nước sắc lá mè lai dùng uống trị đau bụng, dịch ép lá trị phù. Ở Đông Phi, nhân dân dùng nhựa mủ trị vết loét trên lưỡi trẻ nhỏ; lá được dùng ngoài trị bệnh ngoài da và uống để nhuận tràng; trồng mè lai làm hàng rào để đuổi rắn. Ở Venezuela, rễ được đùng trị bệnh phong và giải độc rắn cắn.
  • Ở Costa Rica, nước sắc toàn cây mè lai được coi là có tác dụng trị ung thư, mặt khác ở đó có tỷ lệ người mắc ung thư thực quản cao, có thể do mè lai chứa một số este đồng gây ung thư trong đầu hạt. Ở đảo Ăng Ti, nhân dân dùng lá tươi trị sốt trong sốt từng cơn, nhựa mủ bôi trị loét, dầu hạt dùng ngoài trị bệnh phong.
  • Bên cạnh đó, người ta cũng thường trồng mè lai làm hàng rào xung quanh các ruộng cao hoặc bờ nương rẫy ở vùng đồi.
Xem thêm:  Cây Bằng Lăng

IV. Cách trồng và chăm sóc cây

  • Mè lai thuộc loại cây đặc biệt ưa sáng và chịu được khô hạn.
  • Cây ra hoa quả nhiều hàng năm; tái sinh tự nhiên tốt từ hạt và có thể trồng được dễ dàng bằng cắm cành.

Viết một bình luận