Cây Kiệu

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây kiệu
  • Tên gọi khác: Dã phỉ, Giối banh
  • Tên khoa học: Allium chinensis G. Don
  • Họ: Alliaceae
  • Nơi sống: Nguyên sản của Trung Quốc, sau lan xuống phía nam, đến Lào, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam. Ở Việt Nam, kiệu cũng được trồng khá phổ biến ở những tỉnh miền núi giáp biên giới phía bắc như Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng và Lạng Sơn. Cây đặc biệt ưa ẩm, ưa sáng hoặc chỉ hơi chịu bóng. Kiệu cũng ưa khí hậu mát, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng từ 15 đến 25 oC.

Cây Kiệu

II. Đặc điểm của cây

  • Cây thảo nhỏ có thân hành màu trắng, hình trái xoan thuôn, bao bởi nhiều vảy mỏng.
  • Lá mọc ở gốc, hình dải hẹp, nửa hình trụ, dài 15-60cm, rộng 1,5-4mm.
  • Cụm hoa hình tán kép trên một cuống hoa dài 15-60cm, mang 6-30 tán hoa màu hồng hay màu tím.
  • Mùa hoa: tháng 6-8

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Kiệu có vị cay đắng, tính ấm; có tác dụng làm ấm bụng, tán khí kết, khỏi đầy hơi, bổ thận khí, mạnh dương; còn có tác dụng lợi tiểu.
  • Kiệu cũng dùng chữa đái dắt và bạch trọc như hành củ. Lại dùng chữa phụ nữ có thai bị lạnh đau bụng, trị lỵ, ngã ngất hôn mê, bỏng. Nếu ăn được đều thì chịu được rét lạnh, bổ khí, điều hòa nội tạng, cho người ta béo khoẻ.
  • Kiệu còn được dùng rộng rãi ở nông thôn để lấy củ muối dưa, làm gia vị hay làm thức ăn.
Xem thêm:  Cây Bách Hợp

IV. Cách trồng và chăm sóc cây

  • Thời vụ trồng kiệu

Cây kiệu có thể trồng quanh năm, nhưng chủ yếu trồng vào tháng 9 – 1 năm sau. Vụ này cây sinh trưởng phát triển tốt nên cho năng suất cao, bán vào dịp tết được giá.

Vụ phụ có thể trồng tháng 4 –5 để thu tháng 7 –8.

  • Làm đất để trồng kiệu

Các chuyên gia cho biết, đất trồng kiệu nên chọn loại đất nhẹ, tơi xốp giàu mùn, nhiều cát, dễ thoát nước, độ PH từ 6 đến 6,5 như các loại đất thịt nhẹ, đất cát pha, đất phù sa ven sông để trồng kiệu là tốt nhất. Đất trồng kiệu phải được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, bón đủ lượng phân lót và vôi bột (nếu đất chua) rồi lên luống rộng 0,8 – 1m, cao 25 đến 30 cm, rãnh rộng 30 cm.

  • Chuẩn bị giống, trồng và chăm sóc cây kiệu

Sau khi thu hoạch vụ trước, nên chọn các củ to, đều, không có sâu bệnh đem phơi khô cho lá héo rồi bó lại thành từng bó treo trên giàn cất giữ cho đến khi trồng. Trước khi trồng mới tách các tép ra, mỗi hóc chỉ cho một tép.

Nên xử lý củ giống trước khi trồng bằng thuốc trừ nấm Benomyl 50 WP. Khi thấy có triệu trứng bệnh thì dùng Validacyl 50 WP, Rovral 50 WP, rodomil 68 WP hoặc Aliette 80 WP pha nồng độ 0,3% để phun đều trên mặt luống.

Chuyên gia nông nghiệp cho biết, dùng ngón tay trỏ hoặc một đoạn thân gỗ, tre có đường kính 2 – 3 cm chọc lỗ rồi đặt củ kiệu giống xuống sâu 5 –6 cm. Có thể trồng thành các hàng dọc hoặc hàng ngang trên mặt luống với khoảng cách hàng 20 – 25 cm, cây cách cây 10 – 12 cm.

Xem thêm:  Cây Bảy Sắc Cầu Vồng
Lưu ý: không được lấp đất vào lỗ mà chỉ rải một lớp đất mỏng trên mặt luống rồi dùng rơm rạ phủ kín và tưới nước đủ ấm.

Thường xuyên làm sạch cỏ trên mặt luống, tưới đủ ẩm cho kiệu mọc nhanh và khoẻ, củ to. Sau trồng một tháng thì dỡ rơm rạ ra xới xáo, vun gốc kết hợp với bón phân thúc cho kiệu rồi lại phủ rạ trở lại như củ nhằm hạn chế cỏ dại mọc, vừa giữ cho đất tơi xốp giúp cho kiệu đẻ nhánh và hình thành củ dễ dàng.

  • Bón phân cho cây kiệu

Với diện tích 1000m2, ngoài lượng phân bón lót cần phải bón thúc cho kiệu 2- 3 lần, mỗi lần cách nhau 12 – 15 ngày. 2,5 – 3 tấn phân chuồng/hữu cơ + 30kg lân supe + 15kg phân KCl + 10kg tro trấu và vôi nếu đất chua.

Toàn bộ lượng phân dùng để bón lót được rải đều trước khi lên luống để trồng.

Bón thúc: Trong thời gian trồng từ 3 – 5 tháng tùy theo mùa vụ và giá bán (hay để lâu để lấy củ già bán giống), có thể bón thúc phân cho cây kiệu vài lần, mỗi lần cách nhau 12 – 15 ngày với lượng phân từ 3,5 – 4kg urê + 1kg KCl cho 1.000m2.

Bón thúc lần 1, nên sử dụng  phân NPK 16-12-8-11+TE từ 2,5 – 3,0kg. Bón thúc lần 2 sử dụng phân NPK 12-12-17-9+TE  từ 2,5-3,0 kg bằng cách hoà nước tưới vào gốc hoặc kết hợp làm cỏ, rắc phân giữa các hàng rồi vun gốc.

Xem thêm:  Hoa Ly Lùn

Các nghiên cứu nước ngoài còn khuyến cáo áp dụng phân hữu cơ sinh học và phân bón lá Humic Acid nhằm giảm phân hóa học và giảm ô nhiễm đất đai, nguồn nước, sản phẩm.

Đồng thời dùng phân hữu cơ sinh học còn giúp tăng năng suất củ, kéo dài thời gian bảo quản, giảm thất thoát trọng lượng củ.

Ngoài ra còn khuyến cáo áp dụng phân gia cầm với lượng 2 tấn/1.000m2 sản xuất nhằm giúp tăng năng suất và chất lượng củ và lá của cây kiệu.

  • Phòng trừ sâu bệnh cho cây kiệu

Cây kiệu thường bị sâu ăn lá, xuất hiện vào thời kỳ mới trồng, cây kiệu còn non. Có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu như Polytrin 400 SCW, Selecron500 ND, fastac 5EC pha nồng độ từ 0,1 đến 0,15% để phun trừ.

Ngoài ra, cây kiệu còn hay gặp bệnh sương mai phát sinh và gây hại trong điều kiện nhiệt độ thấp dưới 25 độ C, độ ẩm không khí cao trên 85%. Bệnh có thể gây chết hàng loạt dẫn đến thất thu. Chú ý phun phòng bằng thuốc Boocđô 1%, Oxít Clorua đồng 1 – 1,5 %.

Hay bệnh thối củ do vi khuẩn Ervinia sp hoặc nấm Botrytis gây hại từ khi củ bắt đầu vào chắc cho đến khi thu hoạch và trong thời gian bảo quản. Bệnh thối củ thường phát sinh và gây hại trong điều kiện môi trường ẩm thấp, bón phân không cân đối, đặc biệt là bón quá nhiều đạm, thiếu lân và kali.

Viết một bình luận