Cây Kháo Vàng

I. Giới thiệu về cây Kháo vàng

  • Tên thường gọi: Cây kháo vàng
  • Tên khoa học: Machilus  bonii Lecomte.
  • Họ thực vât: Long não (Lauraceae)
  • Phân bố: Cây phân bố tự nhiên ở Lào, Campuchia, Việt Nam. Là loài cây có biên độ sinh thái rộng. Ở Việt Nam phân bố rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Gia Lai. Kháo vàng thường sống trong các quần xã thực vật gồm Dẻ, Trám, Re gừng, Lim xanh, Ràng ràng.

II. Đặc điểm của cây Kháo vàng

  • Cây cao 25-30cm, thân thẳng, thuôn đều, đường kính ngang ngực đạt 60-70cm, phân cành cao trên 5m. Vỏ mỏng có mùi thơm, khi già vỏ bong vảy từng mảng.
  • Lá đơn, mọc cách, hình trứng ngược, đuôi hình nêm, lá có chiều rộng 4- 6cm, dài 14-15cm, mặt trên lá nhẵn màu xanh lục, mặt dưới lá phớt trắng, lá cũng có mùi thơm.
  • Hoa tự viên chuỳ ở nách lá. Hoa lưỡng tính, bao hoa có 6 thuỳ bằng nhau hình thuôn, ngoài có phủ lông ngắn. Nhị 9,  xếp thành 3 vòng, 6 nhị ngoài không tuyến, bao phấn 4 ô, ba nhị ở trong có hai tuyến ở gốc. Quả hình cầu, đường kính 1-1,5cm, cánh đài tồn tại và xoè ra ở gốc quả.
  • Quả chín có mầu tím đen, ngoài phủ một lớp phấn trắng, cuống quả có mầu nhạt. Bao hoa tồn tại khi quả rụng.
Xem thêm:  Cây Dẻ

Tìm hiểu về cây kháo vàng

III. Tác dụng của cây Kháo vàng

  • Gỗ kháo vàng giác lõi phân biệt, giác trắng, lõi có mầu vàng nhạt, mịn thớ, khá cứng và nặng, tỷ trọng 0,7, xếp nhóm IV. Gỗ có mùi thơm và khá bền với mối mọt nên thường dùng để đóng đồ gia dụng như bàn, ghế, giường, tủ, dùng trong xây dựng, gaio thông vận tải, nguyên liệu gỗ bóc dán lạng.
  • Vỏ cây kháo vàng dùng để làm thuốc chữa bỏng và chữa đau răng rất tốt.

IV. Cách trồng và chăm sóc cây Kháo vàng

  • Cây lấy giống phải là cây đạt 15 tuổi trở lên, sinh trưởng tốt, thân thẳng, tán rộng và đều, không bị sâu bệnh và đã có từ hai vụ quả trở lên. Phải lấy hạt từ cây giống, từ vườn giống hoặc rừng giống.
  • Dùng bầu Polyetylen để ươm cây, nếu nuôi cây khoảng 6 tháng chọn cỡ bầu 9 x13cm, nếu nuôi cây trên 9 tháng trở lên thì cỡ bầu 12 x15cm.
  • Trong thời gian gieo hạt hoặc cấy cây mầm cần làm dàn che bằng phên nứa đan hay cắm ràng ràng che bóng 100% trong khoảng 15-20 ngày, sau đó giảm dần dàn che xuống 75%, khi cây ra được 2-3 lá thật cần giảm độ che nắng xuống 50%, bỏ che hoàn toàn khi cây chuẩn bị xuất vườn trước 1 tháng nhưng phải chọn ngày râm mát và phải bỏ từ từ tránh cây bị nắng đột ngột.
  • Trong thời gian đầu cần tưới nước thường xuyên, đủ ẩm. Sau khi cây được 2 tháng tuổi lượng nước tưới giảm dần tuỳ theo thời tiết và độ ẩm của bầu.
  • Sau 1 tháng tiến hành nhổ cỏ phá váng mặt bầu lần 1, thời gian nhổ cỏ phá váng lần 2 tuỳ theo lượng cỏ và độ cứng của mặt bầu.
  • Khi cây cao được 10 cm có thể bón thêm phân NPK(5:10:3) bằng cách pha 0,2 kg vào 10 lít nước, tưới đều trên mặt luống khoảng 4m2; cứ 10-15 ngày tước 1 lần  tuỳ theo mức độ sinh trưởng tốt, xấu của cây để quyết định số lần tưới phân. Dừng tưới phân trước khi cây xuất vườn 1-2 tháng.
  • Khi phát hiện thấy có kiến, sâu quấn lá thì dùng thuốc sâu Pastac hoặc Baxa phun trên mặt luống. Nếu bị nấm thì dùng Benlát nồng độ 1% để phun đều trên mặt luống, cách 7-10 ngày phun 1lần đến khi hết thì ngừng phun.
  • Sau khoảng 1 tháng, cây mầm mọc được 2-3 lá thì cần dồn lại bầu, loại bỏ bầu không có cây để dặm và tập trung chăm sóc cây con. Trước khi trồng từ 1- 1,5 tháng cần tiến hành đảo bầu, cắt lá, hãm cây để khi trồng không bị chột cây. Nếu thời gian nuôi cây trong vườn ươm lâu thì khoảng 4 tháng phải đảo 1 lần. Khi đảo bầu phải chọn thời tiết râm mát và tưới nhiều nước cho ẩm bầu tránh làm vỡ bầu.
  • Cây con đủ tiêu chuẩn xuất vườn là cây 4 tháng tuổi trở lên, cao trên 30cm, đường kính cổ rễ trên 0,3cm, sinh trưởng tốt, phát triển cân đối, không sâu bệnh hoặc cụt ngọn.
Xem thêm:  Cây Lan Chi

Viết một bình luận