Cây Huyết Giác

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây huyết giác
  • Tên gọi khác: Cau rừng, Giáng ông, Dứa dại, Cây xó nhà, Giác máu
  • Tên khoa học: Dracaena cochinchinensis (Lour.) S.C. Chen – Pleomele cochinchinensis Merr. ex Gagnep
  • Họ: Dracaenaceae
  • Nơi sống: Cây huyết giác thường mọc hoang tại các vùng núi đá xanh vùng Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Hà Tây, Hoà Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh. Núi đất không thấy có huyết giác.

Cây Huyết Giác

II. Đặc điểm của cây

  • Huyết giác là một loại cây nhỏ, cao chừng 1-1,5m, có thể tới 2-3m, sống lâu năm. Thân phân thành nhiều nhánh. Cây nhỏ có đường kính chừng 1,6-2cm, cây to có đường kính tới 20-25cm.
  • Lá hình lưỡi kiếm, trung bình dài 25-80cm, rộng 3-4cm, tới 6-7cm, cứng, màu xanh tươi, mọc cách, không có cuống. Lá rụng để lại trên thân một sẹo. Thường chỉ còn một bó lá tụ tập trên ngọn.
  • Cụm hoa mọc thành chùm dài tới 1m, đường kính phía cuống tới 1,5-2cm trên có lá nhỏ, dài 15cm, rộng 2cm, phân cành nhỏ dài tới 30cm. Hoa tụ từng 2-4 hoa gần nhau. Hoa nhỏ, đường kính 7-8mm, màu lục vàng nhạt.
  • Qủa mọng hình cầu, đường kính chừng 1cm. Khi khô có màu đen, hạt hình cầu, đường kính 6-7cm.
  • Mùa hoa quả: tháng 2-5.

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Huyết giác mới được dùng trong phạm vi kinh nghiệm nhân dân để chữa những trường hợp ứ huyết, bị thương máu tụ, sưng tím bầm, mụn nhọt, u hạch.
  • Nhân dân các địa phương thường ngâm rượu huyết giác uống chữa đau mỏi sau khi lao động nặng nhọc, đi đường xa sưng chân, đặc biệt chữa bị thương tụ máu (uống và xoa bóp).
  • Ở Trung Quốc, huyết giác được dùng chữa bệnh tràng nhạc (lao hạch) vỡ mủ. Nghiền thành bột, làm cao dán.
Xem thêm:  Cây Lan Hồ Điệp

Viết một bình luận