Cây Giác

I. Giới thiệu về cây Giác

  • Tên thường gọi: Cây giác
  • Tên gọi khác: Dây vác, Dây sạt
  • Tên khoa học:Cayratia trifolia (L.) Domin   
  • Tên tiếng anh: Three-leaf cayratia, Slender watervine
  • Nguồn gốc xuất xứ: Là một loài dây leo thân gỗ bản địa ở châu Á và ở Úc.
  • Tuổi thọ: Sống lâu năm

II. Đặc điểm của cây Giác

  • Hình dáng bên ngoài: Thân cây có tiết diện đa giác, thân non màu nâu đỏ, thân già màu xanh phớt đỏ, nhiều gân dọc, ít lông dài màu nâu đỏ, mấu màu nâu đỏ đậm và có nhiều lông hơn. Dây leo nhờ tua cuốn mọc đối diện với lá. Tua cuốn thường phân 3 nhánh, đôi khi 4-5 nhánh, màu nâu đỏ, ít lông, có những gân dọc.
  • Lá:Lá mọc cách, kép lông chim 1 lần lẻ, 3 lá chét, lá giữa kích thước to hơn 2 lá bên. Lá chét hình trái xoan rộng, đỉnh nhọn, đáy tròn, kích thước 4-6 cm x 3-5 cm; lá già mặt trên màu xanh lục, mặt dưới nhạt hơn, gân giữa màu nâu đỏ; lá non mặt trên màu xanh phớt nâu đỏ, mặt dưới màu nâu đỏ; bìa phiến có răng cưa tròn đỉnh nhọn.

    Gân lá hình lông chim, 6-8 cặp gân phụ, gân lá ở 2 mặt đều có lông dài màu đỏ. Cuống lá chính hình trụ dài 5-6 cm, mặt trên có 1 rãnh nông; cuống lá chét mặt trên có 1 gân lồi ở giữa và 2 rãnh ở 2 bên, mặt dưới lồi tròn, dài 0,7-1,6 cm. Cuống lá chính và cuống lá chét màu nâu đỏ hay màu xanh phớt đỏ, có nhiều gân dọc và nhiều lông dài màu đỏ.

    Lá kèm rời, hình tam giác, màu nâu đỏ, cao 0,35 cm, rộng 2 cm, có nhiều lông dài màu đỏ, rụng sớm.

  • Hoa: Cụm hoa thường mọc ở ngọn cành giữa 2 lá trên cùng; đôi khi đối diện lá. Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 4. Cuống hoa ngắn, hình trụ, màu xanh, hơi phình ra phía đế hoa, có ít lông ngắn màu trắng. Lá bắc và lá bắc con hình tam giác, màu nâu, có lông màu trắng, cao 1 mm, tồn tại. Gốc cuống chung của xim ở giữa cũng có 1 vảy giống lá bắc.
  • Quả: Quả mọng, hình cầu dẹt, màu tím đen, quả non màu xanh và đỉnh có gai nhọn màu nâu đỏ (vết tích vòi và đầu nhụy), chứa 1-4 hạt. Hạt có tiết diện tam giác, một mặt hình tim, 2 mặt còn lại phẳng, màu xanh nâu, nội nhũ hình chữ T.
Xem thêm:  Cây Hoa Lan Hạc Đỉnh Nâu

Cây Giác

III. Tác dụng của cây Giác

1. Giá trị ẩm thực

Khi còn non,quả giác nhỏ như hạt đậu xanh. Càng lớn, trái càng có màu xanh đậm đà và bóng bẩy. Trái chín lại có màu đen thẫm, bên trong tím lịm như mực mồng tơi. Trái giác non có vị chua chát, càng lớn vị thay đổi từ chua thanh đến chua ngọt.

Bởi vậy người ta hay dùng qủa giác để nấu ăn nhằm tăng thêm hương vị cho các món: Canh chua cá đồng, canh chua lươn, cá rô kho trái giác,… Từ kinh nghiệm dân gian, ngoài món cá rô kho trái giác, nhiều loài cá đồng, cá biển và thịt kho khác cũng có thể kho với trái giác để tạo hương vị lạ trong các món kho ở Miền Tây.

Bên cạnh đó, trái giác còn được người dân dùng để ủ rượu thủ công, tạo ra hương vị rất thơm ngon.

2. Tác dụng chữa bệnh

Theo Đông y, rễ cây giác có vị cay, tính mát, có độc; có tác dụng thanh nhiệt  giải độc, làm săn da. Rễ còn được dùng trị nhọt phổi và đinh nhọt.

Ở Việt Nam, thân, lá và quả cây giác được nấu để lấy nước tắm trị rôm, sảy cho trẻ em.

Ở Ấn Độ, người ta dùng rễ giã ra với tiêu sọ đắp trị mụn nhọt.

Ở Campuchia, rễ tươi dùng giã ra, thêm nước lọc uống trị bạch đới và dùng lá sắc uống làm thuốc hạ nhiệt, nước chảy từ thân khi ta chặt ra có thể dùng uống được.

Xem thêm:  Cây Cỏ Ngọt

Ở Trung Quốc, rễ được dùng trị đòn ngã tổn thương, nhọt phổi, ghẻ lở, thân lá được dùng trị gãy xương.

Viết một bình luận