Cây Dưa Hấu

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Dưa hấu
  • Tên gọi khác: Tây qua, Lưa, Dưa đỏ
  • Tên khoa học: Citrullus lanatus (Thunb.) Matsum. & Nakai – Citrullus vulgaris Schrad.
  • Họ: Cucurbitaceae
  • Nơi sống: Dưa hấu được trồng khắp các tỉnh ở miền Bắc và miền Nam nước ta và ở nhiều nước nhiệt đới khác.

Cây Dưa Hấu

II. Đặc điểm của cây

  • Là dạng cây Cỏ sống quanh năm, mọc bò, thân có lông nhất là ở ngọn và các đốt. Lá xẻ thùy 3 đến 5, xẻ sâu, mỗi thùy cũng lại chia thùy nữa. Tua cuốn có 2-3 nhánh. Hoa đơn tính, cùng gốc, màu vàng, to. Hoa đực đơn độc, đài hình chuông, tràng 5, nhị 3. Hoa cái có đài, tràng giống hoa đực, 3 nhị lép dạng chi, bầu dưới, 3 ô, vòi nhụy ngắn, 3 đầu nhụy hình thận dày. Quả hình cầu hay hình trứng, vỏ nhẵn bóng, màu lục đen, nhiều khi có vân sẫm, đường kính tới 30-40cm, thịt quả đỏ hay vàng đỏ rất nhiều nước, ngọt. Hạt dẹt, bóng láng hay nhám mờ, màu đen nhạt hay đỏ.
  • Mùa quả ở miền Bắc từ tháng 4 đến tháng 7, ở các tỉnh miền Nam từ tháng 1 đến 3-4 (trước và sau tết âm lịch).

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Chủ yếu người ta trồng cây dưa hấu để lấy quả ăn. Hạt cũng được thu nhặt để làm thực phẩm.
  • Việc sử dụng các bộ phận của dưa hấu làm thuốc ít được chú ý hơn. Thường chỉ có tính chất địa phương: Người ta dùng vỏ quả giữa của dưa hấu với tên tây qua thủy. Vỏ dưa được cạo bỏ lớp vỏ ngoài màu xanh, phơi khô vỏ quả giữa mà dùng.
  • Ngoài ra người ta còn dùng lớp vỏ xanh phơi khô với tên tây qua bì.
  • Hạt dưa hấu cũng được thu nhặt phơi khô rang chín mà ăn hay làm nhân bánh, kẹo.
  • Quả dưa hấu được dùng chủ yếu trong nhân dân làm thức ăn bổ và mát vào mùa hè, hạt rang lên ăn hay dùng làm bánh mứt kẹo.
  • Trong y học cổ truyền dân gian, người ta coi dưa hấu có vị ngọt, tính hơi hàn, có tác dụng thanh thủ, giải nhiệt, lợi tiểu, dùng trong những trường hợp huyết áp cao, nóng trong bàng quang, đái buốt, viêm thận, phù thũng, vàng da, đái đường, say rượu, cảm sốt, phiền khát.
Xem thêm:  Cây Đậu Ván Trắng

Viết một bình luận