Cây Đơn Kim

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Đơn kim
  • Tên gọi khác: Đơn buốt, Cúc áo, Quỉ châm thảo
  • Tên khoa học: Bidens pilosa L.
  • Họ: Asteraceae
  • Nơi sống: Đơn kim thuộc loại cây mọc nhanh, ưa sáng và ưa ẩm, thường mọc thành quần thể dày đặc trên đất sau nương rẫy, bãi hoang và dọc theo đường đi…

Cây Đơn Kim

II. Đặc điểm của cây

  • Cây thảo, sống hàng năm, cao 0,5 – 1 m. Thân cành cứng, nhẵn, có khía. Lá mọc đối có 3 lá chét hình mác hoặc trái xoan, dài 2 – 4 cm, rộng 1 – 2 cm, gốc thuôn, đầu nhọn, mép có răng cưa, hai mặt nhẵn.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá và đầu cành thành đầu đơn độc hoặc đôi một, đầu gần hình cầu, rộng 0,6 – 1,5cm, lá bắc thuôn, dạng vảy, có lông, những hoa ở ngoài bất thụ,xếp thành một hàng… hình lưỡi màu trắng. Những hoa ở trong hữu thụ, hình ống màu vàng, cánh hoa bất thụ xẻ 3 thuỳ nhỏ ở đầu, nhị 4 – 5, thắt lại ở gốc và có tai ngăn, bầu của hoa bất thụ tiêu giảm, trái lại, ở hoa hữu thụ, bầu to lên gấp 2 – 3 lần.
  • Quả bế, hình kim, có 3 cạnh không đều, khi chín mầu đen.
  • Mùa hoa quả: Tháng 3-5 và tháng 8-10.
  • Còn có loài lá xẻ 5 thùy (Bidens bipinnata L ) đôi khi cũng được dùng
  • Cây con mọc từ hạt xuất hiện vào cuối mùa xuân ( khoảng tháng 4 ), sinh trưởng nhanh trong mùa hè, sau ra hoa quả nhiều rồi tàn lụi vào giữa mùa thu. Ở vùng núi, do mọc muộn nên thời gian tàn lụi của cây kéo dài hơn so với ở đồng bằng. Quả đơn kim có nhiều gai nhỏ, dễ bám vào lông động vật và quần áo người, để phát tán khắp nơi.
  • Đơn kim được coi là loài cỏ dại, thường lấn át các cây trồng. Muốn diệt trừ, cần loại bỏ khi cây còn nhỏ.
Xem thêm:  Cây Trúc Phát Tài

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

Đơn kim có vị đắng, nhạt, hơi the, tính mát, vào 2 kinh can, thận, có tác dụng thanh nhiệt, mát máu, tiêu độc, sát trùng

  • Đơn kim được dùng chữa viêm họng, sưng họng phát sốt, viêm ruột, tiêu chảy, lỵ, viêm thận cấp, dị ứng, mày đay, bệnh ngoài da mẩn ngứa nóng đỏ, nhức răng, đau mắt, vết thương sưng đau, rắn cắn và sâu bọ độc cắn.
  • Theo kinh nghiệm dân gian Trung Quốc, đơn kim được dùng chữa lỵ, tiêu chảy, viêm ruột, họng sưng đau, nấc, ngộ độc.
  • Ở Philippin, lá đơn kim được dùng làm rau ăn hàng ngày có tác dụng phòng bướu cổ. Ở Malaysia, nước hãm đơn kim trị ho. Ở Mêhicô, đơn kim chủ trị đái tháo đường và các rối loạn thần kinh, làm thuốc bổ thần kinh để trị trầm cảm và mệt mỏi trí não, dưới dạng chè. Ở Brazin, lá đơn kim là thuốc làm săn da, trị vết thương, vết loét và sưng các tuyến, dưới dạng thuốc đắp. Còn dùng trị sốt rét, nhiễm khuẩn đường tiết niệu và họng. Ở Peru, nước sắc phần trên mặt đất dùng ngoài chữa vết thương, nước sắc rễ dùng uống để trị giun, bệnh gan do nghiện rượu, vô niệu và đau kinh.
  • Ở Nigiêria, dịch ép hoặc nước sắc lá đơn kim trị viêm ruột kết và tiêu chảy; dịch ép tươi của toàn cầy trị đau tai, chảy máu và các phản ứng viêm. Ở Ruanda, lá đơn kim được dùng sát khuẩn trị viêm phổi, ghẻ cóc. Ở Papua – Niu Guinê, nụ hoa nghiền nát dùng ngoài để rút mủ khỏi các nhọt, cồn thuốc từ hoa và lá ngậm, trị đau răng. Ở  bờ Biển Ngà, dịch ép lá nhỏ tai trị đau tai.
  • Đơn kim còn được dùng rộng rãi trong y học dân gian một số nước khác để làm giảm đau. Nước sắc, nước hãm, hoặc dịch ép lá chữa ho, đau thắt ngực, nhức đầu, sốt, đái tháo đường, táo bón, tiêu chảy, giun đường ruột, đau dạ dày, đau răng, ngộ độc, đau cơ. Lá nấu nước tắm trị ngứa và đau thấp khớp, vò nát, đôi khi hơ nóng trên lửa, đắp trị viêm, bỏng, vết thương, vết loét.
Xem thêm:  Cây Nhũ Hương

Viết một bình luận