Cây Đắng Cay

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây đắng cay
  • Tên khác: Sẻn Gai
  • Tên khoa học: Zanthoxylum Planispinum Sieb, et Zuce, (Z. alatum, Roxb, var. planispinum Rehd, et Wils.)
  • Họ: Cam – (Rutaceae)

Cây Đắng Cay

II. Đặc điểm của cây

  • Cây nhỏ hay cây nhỡ, cao 3-4m, phân nhiều cành. Thân cành nhẵn, có gai dẹt, màu nâu. Lá kép lông chim, mọc so le, 3-5 (thường là 5) lá chét, không cuống, to dần về phía ngọn, hình mũi mác, gốc thuôn, đầu nhọn; cuống chung có cánh ở phần giữa; lá soi lên có những tuyến mờ và vò ra có mùi thơm hắc.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm ngắn hơn lá; hoa đơn tính, đực và cái riêng, màu trắng lục, có 5 lá đài rất ngắn, nhẵn hoặc hơi có lông, 5 cánh hoa hẹp ngang; hoa đực có 5 nhị dài bằng cánh hoa, chỉ nhị rất mảnh, bầu lép; hoa cái có nhị giảm thành lưỡi, bầu có 1-5 noãn.
  • Quả nang, vỏ ngoài sần sùi có tuyến chứa tinh dầu, khi chín màu đỏ nâu, nứt thành hai mảnh; hạt đơn độc, hình cầu, màu đen.
  • Mùa hoa: tháng 5-6; mùa quả: tháng 8-9

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

Hạt đắng cay được dùng chữa đau bụng, tiêu chảy. Lá đắng cay sắc đặc ngậm chữa sâu răng và nấu nước xông, rửa, chữa mề đay, phong hủi.

Xem thêm:  Cây Dã Hương

Trong y học cổ truyền Ấn Độ, người ta dùng vỏ, quả và hạt đắng cay làm dễ tiêu, trị đầy hơi, và giun sán. Vỏ thân làm sạch răng. Quả và hạt chữa sốt và khó tiêu. Cao từ quả có tác dụng tẩy giun đũa.

Do tính chất khử mùi, tẩy uế và sát trùng, quả được dùng trị bệnh về răng, làm thuốc bôi trị ghẻ, và chống ruồi trong nhà. Vỏ và nhiều bộ phận khác của cây làm bả cá và xua côn trùng. Quả khô cho một tinh dầu để sản xuất xà phòng và các chế phẩm về răng miệng.

Ở Nepal, nhân dân dùng một bài thuốc chữa viêm xổ, chảy nước mũi, ho long đờm.

Viết một bình luận