Cây Cúc Gai

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Cây Cúc gai
  • Tên gọi khác: Cây Kế sữa
  • Tên khoa học: Silybum marianum (L.) Gaertn.
  • Họ: Cúc (Asteraceae)
  • Nơi sống: Là cây của vùng Địa trung hải, mọc hoang ở vùng Nam nước Pháp và gần như hoang dại ở phần Nam và Trung châu Âu, Bắc Phi châu, Trung và Đông Á châu đến Bắc và Nam Mỹ.

Cây Cúc Gai

II. Đặc điểm của cây

  • Cây thảo hai năm cao 30 đến 150cm, có thân thẳng và phân nhánh, có rễ trụ, to, dài và dày.
  • Lá xanh, không có lá kèm, bóng loáng, thường có nhiều đốm trắng dọc theo các gân, mép có răng dạng gai mà gai lại có màu vàng và rất nhọn; các lá phía trên và ở giữa ôm lấy thân; các lá ở dưới rất to, có phiến chia thuỳ và có cuống.
  • Cụm hoa đầu đơn độc rộng 3-8cm. Lá bắc ngoài và giữa có một phần phụ hình tam giác màu lục thu lại thành một gai to, ở gốc có 4-6 gai nhỏ ngắn hơn ở mỗi bên.
  • Hoa tía hơi giống nhau đều có 5 cánh hoa, 5 nhị và bầu một ô với 2 lá noãn và 2 vòi nhuỵ phình ở gốc. Quả bế màu đen bóng có viền vàng nhiều hay ít. Cây ra hoa tháng 5 đến tháng 8 của năm thứ hai.

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Cây cúc gai là một loại cây bản địa, phổ biến ở các vùng như Địa Trung Hải, Nam Âu, Trung Đông, Bắc Phi. Từ xa xưa, Cây cúc gai đã được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống hàng ngày, đặc biệt là để chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe.
  • Cây cúc gai được người dân bản xứ ở đây coi như một loại thực phẩm, họ sử dụng hầu hết các bộ phận của cây để làm rau ăn hàng ngày. Người châu Âu từ xưa đã có thói quen dùng lá non Cây cúc gai cho món salad, thân cây có thể ăn như măng tây, rễ được dùng như cây diếp củ, ngọn hoa thì được sử dụng tương tự như actiso, và đặc biệt hạt của cây sau khi nướng thì có thể chế biến thành một loại đồ uống giống như café.
  • Từ 2000 năm trước, Người Hy Lạp cổ đại thường dùng Cây cúc gai để chữa trị các bệnh về gan, mật và để bảo vệ gan khỏi các chất độc. Họ dùng hầu hết các bộ phận của cây như lá, hạt, quả để làm cồn thuốc chữa bệnh và thuốc bổ. Theo các tài liệu ghi chép lại, Cây cúc gai được dùng điều trị các bệnh vàng da, viêm  nhiễm (như viêm da, viêm phổi), hen suyễn, bệnh dại và một số bệnh về lá lách. Nicholas Culpeper, một dược sĩ nổi tiếng thế kỷ 17 ở châu Âu đã ghi chép lại việc sử dụng Cây cúc gai rất phổ biến ở đây, cho các trường hợp nhiễm độc gan, lá lách, bệnh vàng da, bệnh gan mật.
  • Ngoài ra, các thầy thuốc còn dùng Cây cúc gai cho phụ nữ sau khi sinh với tác dụng kích thích bài tiết sữa mẹ.
  • Đặc biệt, Cây cúc gai có tác dụng giải độc cho gan rất mạnh và nhanh chóng. Vào cuối thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ thứ 20, các bác sĩ ở Hoa Kỳ đã dùng hạt của milk thistle để làm giảm chứng sung máu trong gan, tỳ tạng (spleen) và thận. Nhiều chuyên gia dược thảo tin rằng chiết xuất (extract) của milk thistle có thể phòng ngừa hoặc chữa trị sự rối loạn chức năng của gan kể cả gan bị nhiễm trùng, gan có mỡ do uống rượu lâu ngày, gan bị hư hại do dùng thuốc và chất độc công nghiệp như carbon tetrachloride.
  • Hiện nay, nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy một trong những hợp chất của milk thistle (silymarin) có công hiệu mạnh để bảo vệ gan chống lại sự hủy hoại gây ra bởi vi khuẩn, độc tố, rượu và một vài loại thuốc chữa bệnh đau nhức thông thường (như là thuốc acetaminophen, cũng gọi là Paracetamol, Panadol, Panamax, Panadein…). Chất này gồm một nhóm hỗn hợp gọi là flavonolignands giúp gan sửa chữa lại các tế bào bị hư hoại vì rượu và các độc tố khác. Silymarin cũng giúp tế bào gan tránh khỏi bị tiêu diệt bởi bệnh viêm gan và chất antioxidant trong milk thistle có công hiệu chữa bệnh rất mạnh mẽ.
  • Theo nghiên cứu của Kostek H và cs thì Silibinin là thành phần chứa trong Cây cúc gai  (Sylibum marianum). Cơ chế hoạt động của nó rất phức tạp và rất có lợi trong việc bảo vệ tế bào gan. Một mặt hợp chất này ngăn chặn sự xâm nhập của các độc tố khác nhau (ví dụ amanitin) vào các tế bào gan không cho phép theo cách này để làm chết tế bào và mặt khác, nó ngăn cản quá trình apoptosis qua nội bào. Nó bảo vệ gan khỏi oxy hóa của các gốc tự do trong tế bào bằng cách tăng cường các hoạt động của enzyme superoxide dismutase và peroxidase, cũng như bằng cách tăng nồng độ glutathione và các hoạt động của peroxidase. Silibinin củng cố và ổn định màng tế bào, ức chế sự tổng hợp prostaglandin có liên quan với sự peroxy hóa lipid và thúc đẩy sự tái sinh của gan thông qua việc kích thích sự tổng hợp protein và ảnh hưởng đến việc sản xuất các tế bào gan mới
Xem thêm:  Cây Thương Lục

IV. Cách trồng cây

  • Cây cúc gai có thể được trồng bằng cách gieo hạt trực tiếp xuống đất. Môi trường sinh trưởng của cây cúc gai là ở những vùng khô ráo, nhiều ánh nắng mặt trời.
  • Cây cúc gai trưởng thành cao từ 1,2m đến 3m; lá lớn có chấm hoặc gân màu trắng; bông màu đỏ tím; trái nhỏ, có vỏ cứng màu nâu bóng với nhiều chấm. Toàn thân cây và lá đều có những gai nhỏ li ti đâm vào da rất nhức nên người ta phải mang bao tay dày khi thu hoạch.

Viết một bình luận