Cây Chỉ Thiên

I. Tổng quan về cây

  • Tên thường gọi: Chỉ thiên, Cỏ chỉ thiên
  • Tên gọi khác: Cỏ lưỡi mèo, Cây thổi lửa, Khổ địa đảm, Chân voi nhám, Tiền hồ nam
  • Tên khoa học: Elephantopus scaber L.
  • Họ: Asteraceae
  • Nơi sống: Cây phân bố rộng rãi khắp thế giới, tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ. Ở Việt Nam, cây chỉ thiên có thể gặp ở mọi nơi, từ vùng núi cao khoảng 1500 m xuống đến trung du, đồng bằng và các đảo. Trên thế giới, loài này cũng phân bố ở hầu hết các nước trong vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới.

Cây Chỉ Thiên

II. Đặc điểm của cây

1. Đặc điểm sinh thái

  • Chỉ thiên ưa sáng và có thể chịu hạn tốt, thường mọc thành đám hay xen kẽ với các loại cỏ khác. Ở vùng vùng đồi, nương rẫy, bãi hoang và ở các bờ ruộng cao.
  • Chỉ thiên có thể sống được trên nhiều loại đất. Cây con mọc từ hạt vào khoảng cuối mùa Xuân. Sinh trưởng nhanh trong mùa mưa ẩm.
  • Sau mùa hoa quả, cây tàn lụi vào giữa mùa thu. Cá biệt có những cây mọc trên đất ẩm, phần gốc có thể tồn tại qua đông và mọc lại vào mùa xuân năm sau.
  • Chỉ thiên thường được coi là loại cỏ dại, phát tán và lan rộng nhanh ảnh hưởng tới cây trồng.
Xem thêm:  Cây Thằn Lằn

2. Đặc điểm hình thái

  • Cây thảo, cao 20 – 50 cm, thân hình trụ, cứng có lông thô, phân nhiều nhánh khi có hoa, lá ở gốc mọc thành hình hoa thị, hình mác, dài 6 – 12 cm, rộng 3 – 5 cm, phiến lá uốn lượn và men theo cuống ôm lấy thân, đầu tù, lá phía trên nhỏ dần, các lá đều khía răng nhỏ và có lông trắng ở cả hai mặt, nhất là ở các gân.
  • Cụm hoa mọc thành xim hoặc ngù mang nhiêu giả, trong mỗi đầu có 4 hoa màu tím hoặc tím hồng, tràng hình ống có 5 thùy, mào lông gồm 5-6 sợi, bao phấn có tai.
  • Quả bế, hình thoi, có 10 cạnh lồi.
  • Mùa hoa quả: tháng 1 – 8.
  • Cây dễ nhầm lẫn: Chỉ thiên dại (Elephantopus spicatus B. Juss. ex Aubl.) cùng họ, có lá hẹp hơn. Và cụm hoa ở dạng bông.

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Chỉ thiên được dùng chữa cảm mạo, sốt cao, ho, sưng họng, chảy máu cam, nôn ra máu, viêm thận cấp. phù thũng, viêm gan do virus, tiểu tiện khó khăn, khí hư bạch đới, mụn nhọt lở ngứa, rắn cắn.
  • Trong y học dân gian Ấn Độ, nước sắc rễ và lá chỉ thiên là thuốc giảm đau, trị đái khó, tiêu chảy, kiết lỵ, viêm, hoặc đau dạ dày. Rễ được dùng làm ngừng nôn, rễ chỉ thiên tán bột trộn với bột hạt tiêu dùng bôi chữa đau răng. Lá vò nát, đun trong dầu dừa bôi chữa loét và eczema. Nước sắc cây trị sốt rét, nước sắc rễ làm thuốc bổ gan và tim.
  • Trong y học dân gian Nepal, người ta dùng rễ chỉ thiên nhai để trị ho và cảm lạnh.
  • Ở các nước Đông Nam Á, chỉ thiên được dùng rộng rãi làm thuốc lợi tiểu, hạ sốt và làm dịu da. Ở Malaysia, nước sắc lá hoặc rễ phụ thêm vào các thuốc khác làm thuốc bổ và chữa giun sán, ho, hen và bệnh hoa liễu. Rễ tươi làm ngừng nôn, và lá đắp vào bụng chữa phù.
  • Ở Indonesia, rễ chỉ thiên giã nát hoặc sắc nước trị khí hư, thiếu máu và làm thuốc bổ khi sinh đẻ, lá trị giun sán, tăng dục, chữa ho, và tiêu chảy.
  • Ở Myanmar, nước sắc thân và lá chữa rối loạn kinh nguyệt.
  • Ở Thái Lan, ngoài việc dùng làm thuốc lợi tiểu và hạ sốt, người ta còn dùng rễ chữa ho, sốt rét và nhiễm ký sinh trùng.
  • Ở Philippin, nước sắc rễ và lá chỉ thiên làm giảm đau.
  • Ở các nước Đông Dương, nước sắc chỉ thiên làm thuốc lợi tiểu, hạ sốt, chữa vô niệu, bệnh lậu mạn tính, ho, các bệnh phổi, ghẻ và cũng dùng khi sinh đẻ
  • Ở Trung Quốc, châu Phi. Trung và Nam Mỹ, nước sắc hoặc nước hãm rễ và lá chỉ thiên làm giảm đau, trị tiêu chảy, lỵ, bệnh phổi, ghẻ, khó tiểu tiện, chảy máu cam, vàng da, phù, vô niệu và bệnh lậu mãn tính.
Xem thêm:  Cây Mắt Mèo

Viết một bình luận