Cây Chè

I. Giới thiệu về cây Chè

  • Tên thường gọi: Cây chè
  • Tên gọi khác: Cây trà
  • Tên khoa học: Có tên khoa học là Camellia sinensis
  • Nơi sống: Vùng núi phía Bắc
  • Nguồn gốc xuất xứ: Các công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng nguồn gốc của cây chè là vùng cao nguyên Vân Nam – Trung Quốc.
    Từ sứa biến đổi sinh hóa của các lá chè mọc hoang dại và các cây chè được trồng trọt, chăm sóc, Dejmukhatze cho rằng, nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam.
    Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác nhau.
  • Tuổi thọ: 30-40 năm
  • Màu sắc của hoa: Hoa có màu vàng và màu trắng.

Cây Chè

II. Đặc điểm của cây Chè

1. Kích thước

Chè là một cây gỗ, mọc hoang và không xén có thể cao tới 20m, cây có thân to tới một người ôm không xuể. Đôi khi mọc thành rừng trên núi đá cao. Nhưng trong khi trồng người ta thường cắt xén cho tiện hái nên cây chỉ cao 1,5 – 2m.

2. Thân và nhánh

Chè chỉ có một thân chính và sau đó mới phân ra các cấp cành.
Do hình dạng phân cành khác nhau nên người ta chia thân chè ra làm 3 loại: Thân gỗ, thân nhỡ (thân bán gỗ) và thân bụi.
Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành.

Xem thêm:  Cây Mần Tưới

3. Mầm chè 

Mầm dinh dưỡng gồm có: Mầm đỉnh, mầm nách, mầm ngủ, mầm bất định (mầm ở cổ rễ)

4. Lá chè

– Lá chè mọc cách trên cành, mỗi đốt có một lá.
– Lá chè có gân rất rõ, những gân chính của lá chè thường không phát triển ra tận rìa lá.,
– Người ta thường dựa vào số đôi gân lá để phân biệt các giống chè.

5. Rễ chè

Hệ rễ chè gồm: Rễ trụ, rễ bên và rễ hấp thu. Khi hạt mới nảy mầm rễ trụ phát triển rất nhanh. Khoảng 3- 5 tháng sau rễ trụ phát triển chậm lại và rễ bên phát triển.

Rễ trụ của chè thường ăn sâu xuống đất hơn 1m. Ở những nơi đất tơi xốp thì rễ thường ăn sâu từ 2 – 3m.

6. Hoa chè

Hoa được hình thành từ mầm sinh trưởng sinh thực và hoa thường hình thành từng chùm ở nách lá. Nụ hoa được hình thành từ tháng 6 và nở rộ vào tháng 11- 12.

Trên cây chè có 100- 200 hoa. Hoa chè là hoa lưỡng tính, có từ 5- 7 cánh màu trắng, có từ 200 – 400 nhị đực

7. Quả chè

Quả thuộc loại quả nang. Mỗi quả có 3 ngăn và có từ 2- 3- 4 hạt. Quả khi chín có màu nâu và có thể nẻ làm bắn hạt ra ngoài.

8. Hạt chè

​Hạt chè có vỏ dày và cứng, có khối lượng diệp tử lớn (chiếm ¾ khối lượng tử diệp), hàm lượng dầu và chất béo trong hạt khá cao (>30%) dễ bị phân giải làm giảm sức nảy mầm. Hạt chè thường chín sinh lý trước chín hình thái vì vậy cần thu hoạch sớm

Xem thêm:  Cây Táo Tàu

III. Ý nghĩa và tác dụng của cây Chè

  • Tác dụng chữa bệnh: Diệt khuẩn, chống chất phóng xạ, giúp cơ thể tỉnh táo, kích thích lao động, đem lại niềm vui.
  • Tác dụng khác: Bã chè phơi khô bỏ túi giấy treo trong nhà vệ sinh khử mùi hôi. Để trong tủ lạnh khử mùi khó chịu của nhiều loại thực phẩm. Chè còn được dùng pha nước uống, trà sữa.

IV. Cách trồng và chăm sóc cây Chè

1. Cách trồng:
a. Làm đất và đào hố trống
Đất trồng chè phải được cày vùi phân xanh trước khi trồng ít nhất 1 tháng. Khi trồng thì bổ hố hay cày rạch sâu 20 – 25 cm theo rãnh hàng đã được đào để trồng bầu cây.
b. Kỹ thuật trồng
Trồng cây sau khi đã bỏ túi bầu. Đặt bầu vào hố hay rạch, lấp đất, nén đất đều xung quanh bầu, lấp phủ lớp đất tơi trên vết cắt hom 1 – 2 cm, đặt mầm cây theo một hướng xuôi chiều gió chính. Trồng xong tủ cỏ, rác 2 bên hàng chè hay hốc trồngdày 8 – 10 cm, rộng 20 – 30 cm mỗi bên. Loại cỏ, rác dùng để tủ là phần không có khả năng tái sinh.
2. Chăm sóc
a. Tưới nước: cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô, khi trái đang lớn và lúc quả sắp chín.
 Cuốc lật tòan bộ diện tích; đào rạch giữa hai hàng chè sâu 20 đến 25 cm, rộng 25 đến 30 cm trước khi đốn chè, ép xanh cành lá chè đốn hoặc chất xanh khác kết hợp bón phân hữu cơ 30 -35tấn/ha. .
b. Bón phân: Hàng năm bón NPK theo tỷ lệ 3:1:1 với lượng phân 35N cho 1 tấn sản phẩm + 75kg MgSO4/ha. Số lần bón: 4 lần trong năm. Lần 1: Bón 30% NPK + 60% MgSO4 (Tháng 2) Lần 2: Bón 30% NPK + 40% MgSO4 (Tháng 5) Lần 3: Bón 25% NPK (Tháng 7) Lần 4: Bón 15% NPK (Tháng 9)
3. Phòng trừ sâu bệnh hại
Phòng trừ sâu, bệnh hại chè bằng biện pháp tổng hợp đảm bảo hợp lý về kinh tế và bền vững dựa trên sự phối hợp biện pháp trồng trọt, sinh học, di truyền chọn giống và hoá học, nhằm đạt sản lượng cao nhất với tác hại ít nhất trong môi trường. Phải kiểm tra thường xuyên, phát hiện sớm để tập trung phòng trừ.

Viết một bình luận