Cây Cát Lồi

I. Giới thiệu về cây Cát lồi

  • Tên thường gọi: Cây cát lồi
  • Tên gọi khác: Cây mía dò, đọt đắng, đọt hoàng, tậu chó (Lạng Sơn), củ chóc
  • Tên khoa học: Costus speciosus
  • Họ thực vật: Là loài phổ biến nhất thuộc chi Costus (chi Mía dò) của họ Costaceae
  • Tuổi thọ: Sống lâu năm
  • Màu sắc của hoa: Màu đỏ

II. Đặc điểm của cây Cát lồi

  • Hình dáng bên ngoài: Cát lồi là cây thân thảo, thân rễ to, nạc, mọc bò ngang, phần non có vảy bao bọc, vảy có lông ngắn. Thân xốp, ít phân nhánh.
  • Kích thước: Cây có chiều cao khoảng 1 – 2m, có khi đến 3m.
  • Lá: Lá mọc so le, hình trứng thuôn, gốc tròn có bẹ, đầu nhọn, mép nguyên, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông mịn, dài 15 – 20cm, rộng 6 – 7cm, gân chính nổi rõ. Lá non mọc thành một đường xoắn ốc rất đặc biệt. Bẹ lá nhẵn hoặc có lông, lúc non màu lục nhạt sau chuyển trắng ngà hoặc đỏ sẫm; lưỡi bẹ phẳng hoặc hơi vát.
  • Hoa: Cụm hoa cát lồi mọc ở ngọn thân thành bông chuỳ, dài 8 – 13m, rộng 5 – 9m; lá bắc dày, xếp lợp, màu đỏ, có mũi nhọn, lá bắc con kề bên, cùng màu; đài hình ống loe ở đầu, có 3 răng cứng màu đỏ sẫm; tràng hình phễu, có ống ngắn và cong màu trắng, họng vàng, nhẵn hoặc có lông; nhị dạng cánh mang một bao phấn, chỉ nhị kết hợp với trung đới kéo dài thành một phần phụ hìnhh trứng đảo hẹp, đầu tròn cong lòng máng ôm lấy vòi nhuỵ. Cánh môi to, màu hồng, trắng hoặc vàng, khía rắng ở đầu; bầu nhẵn hoặc có lông.
  • Quả: Quả nang hình trứng hoặc hình bầu dục có 3 cạnh, màu đỏ sẫm, có đài tồn tại; hạt nhiều, có cạnh không đều, màu đen. Mùa hoa quả: tháng 7 – 11

Loài này còn có một thứ là Costus speciosus (Koenig) Smith var.argyrophyllus Wall. Với đặc điểm là mặt dưới lá màu lục nhạt phủ lông dài và dày hơn. Lá bắc, đài hoa, bầu và quả có lông cứng, nhỏ màu hung xám.

Xem thêm:  Cây Mẫu Tử

Cây Cát Lồi

III. Tác dụng của cây Cát lồi

Ngọn hay cành non cát lồi đem nướng, rồi vắt lấy nước nhỏ chữa đau mắt, đau tai.

Thân rễ cát lồi chữa sốt, đái buốt, đái nước tiểu vàng, viêm bàng quang. Dùng ngoài, thân rễ cát lồi giã đắp chữa rắn cắn.

Ở Trung Quốc, người ta dùng cát lồi chữa viêm thận, phù thũng, xơ gan cổ trướng, tiểu tiện không thông, mề đay.

Ở Ấn Độ cát lồi được dùng làm thuốc chữa sốt, bệnh ngoài da, rắn cắn. Ở Indonesia cát lồi chữa các bệnh về mắt.

Ở Lào và Malaysia, dịch hãm hoặc nước sắc của lá cát lồi là thuốc ra mồ hôi hoặc dùng làm nước tắm cho bệnh nhân sốt cao. Ở Malaysia, người ta còn dùng cát lồi với trầu không để chữa ho.

IV. Cách trồng và chăm sóc cây Cát lồi

1. Cách trồng cây

Cây cát lồi là loại cây ưa khí hậu nóng ẩm, nhưng không chịu được úng. Cát lồi có thể nhân giống bằng hạt, đoạn thân hoặc rễ củ. Cây trồng từ hạt sinh trưởng chậm, củ nhỏ, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế kém.

Trong sản xuất người ta áp dụng phương pháp nhân bằng đoạn thân hoặc bằng rễ củ. Vào tháng 12, chọn những thân 1 năm tuổi, cắt thành đoạn dài 20 – 25cm, chứa 2-3 mắt, nhúng vào nước vôi trong khoảng 15 phút, vớt ra để ráo, rồi đem trổng hoặc ủ trong cát ẩm cho nảy mầm.

Xem thêm:  Tất Cả Các Loại Hoa Hồng Của Việt Nam Và Trên Thế Giới

Trong quá trình ủ không tưới quá ẩm dễ làm thối hom giống. Hoặc lấy đoạn thân rễ có ít nhất 2 mầm ngủ khoẻ, nặng 40 – 80g để ủ mầm. Không dùng đoạn thân rễ dưới 40g hoặc trên 80g. Nếu đoạn giống nhỏ quá, cây mọc yếu vì không đủ chít dinh dưỡng dự trữ trong thời gian đầu; hoặc to quá, trồng sẽ lâu mọc vì thời gian ngủ nghỉ của mầm kéo dài. Một hecta cần 2 – 2,5 tấn củ giống.

Thời vụ trồng cát lồi ở miền Bắc tốt nhất là tháng 2 – 3. Chọn đất cao, nhẹ, thoát nước và giữ ẩm tốt. Đất được cày bừa kỹ, dể ải, lên luống cao 20 – 25cm, rộng 80 – 120cm. Ở sườn đồi, bãi ven sông hoặc đất dốc thoát nước, có thể trồng thành vạt, không cần lên luống.

Khoảng cách trồng thường 3x40cm, 40x40cm hoặc 40x50cm, tuỳ theo độ phì của đất. Mỗi hecta cần bón lót 20 tấn phân chuồng mục, 270 – 400kg supe lân và 100 – 150kg kali.

Hom giống được trồng sâu 8 – 10cm, lấp đất và tưới ngay. Nếu có điều kiện, dùng rơm, rác phủ trên mặt luống để giữ ẩm và hạn chế cỏ dại.

2. Cách chăm sóc cây

Sau khi cây mọc, chỉ cần tưới khi trời quá khô hạn, nhưng phải chú ý thoát nước nhanh sau mỗi trận mưa lớn. Lúc cây còn nhỏ, cần làm cỏ 1 – 2 lần, về sau cây lớn có khả năng lấn át cỏ dại.

Xem thêm:  Cây Rau Má Lá Rau Muống

Vào tháng 5 – 6, trước mùa cây sinh trưởng mạnh, cần bón thúc cho mỗi hecta 100 – 150kg đạm. Khi cây ngủ đông, làm vệ sinh đồng ruộng, chặt bỏ những cây gầy, đổ, thu dọn lá già, lá héo, bổ sung thêm 10-15 tấn phân chuồng, 150kg supe lân và 100 kg kali. Sang xuân, cây tái sinh và mọc thêm mầm mới. Đến tháng 5-6, lại bón thúc cho mỗi hecta 100kg đạm.

Cát lồi không có sâu bệnh gì đáng kể. Cây trồng được 18 – 20 tháng cho thu hoạch thân rễ. Thu lúc cây bắt đầu ra hoa (tháng 8) tuy tỷ lệ diosgenin cao, nhưng năng suất thân rễ còn thấp, nước còn nhiều. Thu muộn hơn, lúc cây đã ngủ đông (tháng 11), tỷ lệ diosgenin giảm nhưng năng suất lại cao, hàm lượng nước cũng ít.

Viết một bình luận