Cây Bình Linh

I. Giới thiệu về cây Bình linh

  • Tên thường gọi: Cây Keo dậu (Miển Bắc), Táo nhơn (Miền Trung), Bình linh (Miền Nam)
  • Tên gọi khác: Cây Keo giậu, keo giun, bọ chét, bọ chít,…
  • Tên khoa học: Leucaena leucocephala 
  • Họ thực vật: Thuộc họ Đậu – Fabaceae
  • Tên tiếng anh: White Leadtree, White Popinac, Jumbay
  • Nơi sống: Cây bình linh sinh trưởng ở vùng nhiệt đới
  • Nguồn gốc xuất xứ: Cây có nguồn gốc từ ở nam Bắc Mỹ và Trung Mỹ, phân bố từ Texas (Hoa Kỳ) tới Peru với 24 loài cây thân gỗ và cây bụi. Hiện nay giống cây này phân bố khắp các vùng nhiệt đới trên thế giới.
  • Màu sắc của hoa: Màu trắng
  • Thời gian nở hoa: Hoa nở vào khoảng tháng 4 – tháng 6 hàng năm

II. Đặc điểm của cây Bình linh

  • Hình dáng bên ngoài: Cây gỗ nhỏ, không có gai, vỏ thân màu xám nhạt, tán lá hẹp.
  • Kích thước: Cây bình linh có thể cao tới 5m.
  • Lá: Lá kép lông chim hai lần; cuống chung dài 12-20mm; lá lông chim 4-8 đôi; lá chét 12-18 đôi gần như không cuống và hình lưỡi liềm, dài 10-15mm, rộng 3-4mm. Lá nhẵn, trên cuống lá cấp 1 có các tuyến hình chậu (một đặc điểm điển hình thuộc phân họ trinh nữ). Lá non mềm, giàu đạm nên dùng làm rau cho người và thức ăn gia súc.
  • Hoa: Cụm hoa hình đầu ở nách lá, gồm nhiều hoa màu trắng. Mùa hoa tháng 4 – tháng 6.
  • Quả: Mùa quả vào tháng 7 – tháng 9. Quả tạo thành chùm. Quả đậu dẹt màu xanh lục khi còn non, màu nâu nhạt khi đã già, dài 13-14cm, rộng 15mm, đầu quả có mỏ nhọn. Quả còn non ăn được như các loại đậu ăn quả.
  • Hạt: Mỗi quả có 15-20 hạt, hạt dẹt, lúc non màu lục; khi già màu nâu nhạt, cứng, nhẵn. 

Cây Bình Linh

III.Tác dụng của cây Bình linh

1. Giá trị ẩm thực:

Xem thêm:  Cây Mạch Môn

Lá, đọt non của cây bình linh mềm, được dùng làm rau ăn. Có thể dùng làm rau sống, luộc, xào, nấu canh rau hay canh chua. Vị của nó giống như rau nhút nên được người dân Nam Bộ dùng để nấu canh chua thay cho rau nhút.

Quả non của cây bình linh giống như quả đậu ván, dùng để luộc, xào, nấu canh như đậu que, đậu bún…

2. Tác dụng chữa bệnh:

Được biết, nước sắc vỏ rễ và vỏ cây bình linh còn có công dụng ngừa thai, riêng vỏ cây còn điều trị bệnh về đường tiêu hóa. Liều dùng cho người lớn là 50g (dạng tươi).

Nhựa vỏ cây bình linh cũng được xem như chất gel kết dính và được ứng dụng trong chế tạo vỏ thuốc viên có khả năng phân rã nhanh, giúp quá trình thầm thấu thuốc diễn ra nhanh hơn.

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng cây bình linh làm thực phẩm cũng như làm dược liệu cần chú ý đến độc tính của nó.

3. Tác dụng khác: 

Bình linh là cây tiên phong trên vùng đất khô hạn, nó có thể phát triển trên đất khô cằn và đồi trọc nên được khuyến cáo trồng để cải thiện môi trường vùng cao bị sa mạc hóa.

Hiện nay, cây bình linh được coi như là một nguồn cung cấp than củi và năng lượng (tương đương 1 triệu thùng dầu hàng năm từ diện tích 120 km²).

Bên cạnh đó, hạt của cây bình linh khi còn xanh có thể ăn được và hạt chín thường dùng làm thuốc trục giun, bột dinh dưỡng cho người và gia súc.

IV. Cách trồng và chăm sóc cây Bình linh

1. Cách trồng cây

  • Thời gian trồng:
Xem thêm:  Cây Trúc Diệp Sâm

Thời gian tốt nhất để trồng cây bình linh là vào tháng 4.

  • Chuẩn bị đất:

Có thể trồng keo dậu ở ruộng tập trung, trên bờ bụi, bờ mương máng hoặc trong vườn, làm hàng rào. Cần chú ý chọn loại đất thoát nước, ít chua. Nếu trồng tại ruộng thì chuẩn bị đất như khi trồng các loại đậu đỗ khác. Sau khi cày bừa và làm đất tiến hành lên luống rộng 3 m, rạch các hàng trên luống cách nhau  70 – 80 cm, sâu khoảng 10 cm

  • Phân bón:

Mỗi ha cần 10 tấn phân chuồng, 300 kg phân lân nung chảy và 150 kg clorua kali. Các loại phân này dùng bón lót toàn bộ trước khi bừa lần cuối và mỗi năm bón một lần vào vụ xuân

  • Cách trồng:

Trước khi gieo, cần xử lý hạt như sau : làm ướt hạt bằng nước lã, sau đó đổ nước nóng 90 – 100C vào và ngâm trong vòng 5 phút. Bước tiếp theo là gạn hết nước nóng và đổ nước lã vào cho ngập hạt, ngâm tiếp 5 – 10 giờ, rồi lại gạn hết nước và để hạt thật khô ráo, trước khi đem gieo.

Gieo hạt theo hàng rạch, trung bình 1m dài gieo 20 hạt (lượng hạt khô cần cho mỗi ha khoảng 20 kg), lấp đất sâu khoảng 5cm.

Cũng có thể gieo hạt vào bầu đất hoặc vườn ươm, sau đó, khi cây mọc cao khoảng 45cm bứng đi trồng (trong trường hợp trồng làm hàng rào) như các loại cây gỗ khác; trồng cây cách cây 50cm.

Xem thêm:  Hoa Kim Châm

Sau khi trồng khoảng 10 ngày, kiểm tra tỷ lệ nảy mầm, nếu cần thiết thì gieo hoặc trồng dặm lại. Dùng cuốc xới xáo nhẹ theo hàng và làm sạch cỏ dại hai đợt: lúc 15 ngày và lúc 40 ngày sau khi trồng.

2. Cách chăm sóc cây

Giai đoạn đầu rất cần chú ý làm cỏ và tháo kiệt nước để cây sinh trưởng nhanh lấn át được cỏ dại. Những năm tiếp theo vào tháng 1, xới sâu đất, diệt cỏ dại bón phân như năm đầu. Sau 3 – 4 năm cần đốn đau toàn bộ thân gốc vào đầu mùa xuân để làm trẻ hoá thảm cây.

Bình linh lai thường bị bệnh Muội đen do Rệp gây ra. Bệnh thường nặng vào mùa xuân khi ẩm độ không khí cao và trời âm u không có ánh sáng. Thông thường có thể dùng một số loại thuốc sinh học phun phòng vào đầu vụ xuân để diệt các loài chích hút. Nhưng trong chăn nuôi gia súc tốt nhất là không dùng thuốc mà khi thảm cây chớm bệnh nên cắt bỏ hoàn toàn cho vào xử lý làm phân bón hoặc mang xa nơi thảm cây để khô và đốt bỏ để lấy lứa tái sinh sạch bệnh.

Cây bình linh trồng một lần nhưng thu hoạch, sử dụng được nhiều năm. Thường chu kỳ thu hoạch là 5-6 năm mới phải trồng lại. Do vậy, sau mỗi lần thu hoạch cần xới giữa các hàng cây cho đất tơi xốp và tưới nước cho thảm cây nhất là mùa khô. Thông thường thảm cây có tưới nước đã cho năng suất cao hơn 18-25% so với không tưới cho cây. Đầu mùa xuân hàng năm cần bón phân theo quy định.

Viết một bình luận