Cây Bạch Đậu Khấu

I. Giới thiệu về cây

  • Tên thường gọi: Cây Bạch đậu khấu
  • Tên khoa học: Amomum testaceum Ridl. – Amomum krervanh Pierre ex Gagnep.
  • Họ: Zingiberaceae.
  • Nơi sống: Amomum Roxb. là một chi lớn có khoảng 250 loài ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, song tập trung nhất ở châu Á. Chúng phân bố suốt từ vùng Nam Himalaya, bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, xuống các nước Đông Dương, vùng Đông Nam Á đến tận Australia. Trong đó, riêng ở đảo Borneo có tới 30 loài, Malaysia 13 loài, và Việt Nam khoảng 30 loài. Đây chắc chắn chưa phải là con số cuối cùng, vì ngay ở Việt Nam, chi Amomum Roxb. có mức độ đa dạng khá cao.

Cây Bạch Đậu Khấu

II. Đặc điểm của cây

  • Cây thảo, sống lâu năm, cao 2 – 3 m. Thân rễ mọc bò ngang. Lá mọc thành hai dãy, hình dải, dài 20 – 25 cm, rộng 7-10 cm, gốc bằng, đầu thuôn nhọn, hai mặt nhẵn, mép hơi uốn lượn, bẹ lá có khía.
  • Cụm hoa mọc thành bông dày từ thân rễ, bao bọc bởi nhiều vảy chuyển dần thành lá bắc xếp lợp, rụng sớm; đài hoa hình ống, có 3 răng, màu trắng pha đỏ nhạt; tràng hoa gồm 3 cánh màu trắng, cánh môi hình trứng màu vàng; nhị 1, chỉ nhị ngắn, hơi cong; nhị lép nhỏ; bầu nhẵn, 3 ô chứa nhiều noãn, vòi nhuỵ hình chỉ, đầu nhuỵ nhỏ.
  • Quả nang hình cầu, nhẩn, có khía dọc, khi chín màu nâu trắng; hạt có tinh dầu thơm Mùa hoa quả: tháng 5-8.
Xem thêm:  Cây Bần

II. Ý nghĩa và tác dụng của cây

  • Chủ yếu chữa rối loạn đường tiêu hóa như kém ăn, khó tiêu, nôn mửa, đau bụng, đầy hơi, đi ngoài, trẻ con trớ sữa
  • Bạch đậu khấu có tác dụng tăng cường nhu động ruột, gia tăng sự phân tiết dịch vị, óc chế sự lên men không bình thường ở ruột và chống nôn. Nước sắc vỏ (100%) có tác dụng ức chế sự phát triển của trực trùng lỵ. Tinh dầu bạch đậu khấu trên chuột lang gây bệnh lao thực nghiệm, tăng cường tác dụng điều trị của Streptomycin dùng với liều nhỏ.
  • Ngoài ra, bạch đậu khấu còn có tác dụng chống nấm, hạ sốt, giãn cơ trơn và hạ huyết áp.
  • Từ quả bạch đậu khấu ở Thái Lan, đã tách chiết được một diterpen peroxid; chất này có tác dụng diệt ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum, do đó rất được chú ý trong công tác phòng chống sốt rét. Thí nghiệm trên ống kính cho thấy tác dụng của diterpen peroxid khoảng 1/10 tác dụng của artemisinin và bằng tác dụng của arteflene là một thuốc chống sốt rét có hiệu quả mà vể mặt cấu trúc có liên quan đến artemisinin. Ở Ấn Độ, loài amomum fenzlii Kurz được dùng chữa sốt rét, ở Trung Quốc là loài Amomum tsao – ko Crerost & Lem (Thảo quả) và ở Việt Nam là cây Amomum krervanh.

Viết một bình luận