Cây Ba Kích

I. Giới thiệu về cây Ba kích

  • Tên thường gọi: Cây ba kích
  • Tên gọi khác: Cây kích thiên, cây ruột gà, chẩu phóng xì, thao tầy cáy, ba kích nhục, liên châu ba kích.
  • Tên khoa học: Morinda officinalis How
  • Họ thực vật: Thuộc họ Cà phê – Rubiaceae
  • Nơi sống: Ba kích mọc hoang, phân bố nhiều ở vùng đồi núi thấp của miền núi và trung du ở các tỉnh phía Bắc. Ba Kích có nhiều ở Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Lạng Sơn, Hà Giang, Hà Tây.
  • Nguồn gốc xuất xứ:
  • Tuổi thọ: Là cây sống lâu năm
  • Màu sắc của hoa: Màu trắng hơi vàng
  • Thời gian nở hoa: Mùa hoa vào tháng 5 – 6
  • Gồm các loại cây: Có hai loại ba kích trong tự nhiên: Ba kích tím và ba kích trắng. Ba kích tím: Màu củ có màu vàng sậm, phần thịt bên trong có màu hanh tím. Khi ngâm rượu làm cho màu rượu chuyển thành màu tím sậm. Ba kích trắng: Củ có màu vàng nhạt, phần thịt bên trong màu trắng trong, không có sắc tím. Khi ngâm rượu: rượu chuyển màu tím nhạt.
Cây Ba Kích
Cây Ba Kích

II. Đặc điểm của cây Ba kích

  • Hình dáng bên ngoài: Ba kích là cây thảo, leo bằng thân quấn. Thân non màu tím, có lông, phía sau nhẵn.
  • Kích thước: 
  • Lá: Lá ba kích mọc đối, hình mác hoặc bầu dục, thuôn nhọn, cứng, dài 6 – 14cm, rộng 2,5 – 6cm, lúc non màu xanh lục, khi già màu trắng mốc. Lá kèm mỏng ôm sát thân.
  • Hoa: Hoa nhỏ, lúc non màu trắng, sau hơi vàng, tập trung thành tán ở đầu cành, dài 0,3 – 1,5cm, đài hoa hình chén hoặc hình ống gồm những lá đài nhỏ phát triển không đều. Tràng hoa dính liền ở phía dưới thành ống ngắn.
  • Cành: Cành non, có cạnh.
  • Quả: Quả hình cầu, khi chín màu đỏ, mang đài còn lại ở đỉnh. Mùa quả vào khoảng tháng 7 – 10.
  • Rễ: Rễ củ soắn như ruột gà dài 15-20 cm, to 1 – 2 cm chia nhiều đoạn to thắt đều đặn.
Xem thêm:  Cây Mía Dò

III. Tác dụng của cây Ba kích

Theo tài liệu cổ, ba kích có vị cay ngọt, tính hơi ôn. Vào thận kinh. Có tác dụng ôn thận trợ dương, mạnh gân cốt, khử phong thấp. Dùng chữa dương ủy, phong thấp cước khí, gân cốt yếu, mềm, lưng gối mỏi đau. Người âm hư, hỏa thịnh, đại tiện táo bón cấm dùng.

Trong nhân dân, ba kích được dùng phổ biến làm thuốc bổ, tăng lực. Đối với nam giới có hoạt động sinh dục yếu, ba kích có tác dụng làm tăng khả năng giao hợp, đặc biệt đối với các trường hợp khả năng giao hợp yếu và thưa. Tuy không làm tăng đòi hỏi tính dục, nhưng ba kích có tác dụng tăng cường sức dẻo dai; không thấy có tác dụng giống androgen trên lâm sàng.

Ba kích không làm thay đổi tinh dịch đồ nhưng trên thực tế có tác dụng hỗ trợ và cải thiện hoạt động sinh dục cũng như điều trị vô sinh cho những nam giới có trạng thái vô sinh tương đối nhẹ và suy nhược thể lực. Còn các trường hợp tinh dịch ít, tinh trùng chết nhiều, không có tinh trùng không xuất tinh khi giao hợp, sử dụng ba kích chưa thấy kết quả.

Đối với người cao tuổi, những người thường có biểu hiện mệt mỏi, kém ăn, ít ngủ, người gầy yếu mà không thấy có những yếu tố bệnh lý gây nên, một số trường hợp có đau mỏi các khớp, ba kích có tác dụng tăng lực rõ rệt thể hiện qua những cảm giác chủ quan như đỡ mệt mỏi, ngủ ngon, ăn ngon và những dấu hiệu khách quan như tăng cân, tăng cơ lực. Còn đối với những người đau mỏi các khớp, sau khi dùng ba kích dài ngày các triệu chứng đau mỏi giảm rõ rệt.

Xem thêm:  Cây Tía Tô

Trong Đông y, ba kích thường được phối hợp với các vị thuốc khác để ngâm rượu hoặc sắc uống tùy bệnh mà thầy thuốc sẽ bắt mạch và kê đơn cho phù hợp.

IV. Cách trồng và chăm sóc cây Ba kích

1. Cách trồng cây

  • Tiêu chuẩn chọn giống:
Vào khoảng tháng 3-4, khi thời tiết ấm dần, chọn những cành bánh tẻ ở cây ba kích sống khỏe, chặt thành từng đoạn 20-30cm, mỗi đoạn có 2-4 mắt. Có thể đem trồng ngay hoặc giâm và vườn ươm cho đến khi nảy mầm, ra rễ mới đem trồng.
  • Thời vụ và mật độ trồng:
Có hai vụ trồng trong năm, đó là Vụ xuân gieo hạt vào tháng 1 và Vụ xuân – hè trồng vào tháng 5 – 7.
Trồng trên đất canh tác tơi xốp thì hệ rễ ba kích rất phát triển. Mật độ khoảng cách trồng thường là: Mật độ 8.500 cây/ha với khoảng cách trồng 1 m x 1,2 m – 1cây. Mật độ 10.000 cây/ha với khoảng cách 1 m x 1 m – 1 cây.
  • Làm đất và đào hố trồng:
Chọn đất feralit đỏ vàng trên núi thấp hoặc đất thịt nhẹ pha cát tơi xốp có tầng canh tác dày. Đất ẩm mát, cao, tốt nhất là đất đồi feralit giàu mùn. Phát đốt dọn sạch các loại cây tạp. Đất ruộng (nương bậc thang) được cày sâu nhưng không được lật tầng đế cày lên. Đất được làm ải từ cuối năm trước. Cày ải xong 5 – 7 ngày phải bừa ải giữ ẩm cho đất.
Đến vụ trồng ba kích phải bừa lại để đất nhỏ, tơi xốp, nhặt sạch các tạp chất trên ruộng, lên luống cao 20cm, mặt luống 60cm rãnh luốn 20cm, bổ hốc trên mặt luống trước khi trồng kích thước 30 x 30cm sâu 20cm. Đất đồi dốc không cày làm đất mà cuốc hố theo hàng đồng mức cách nhau 1m, cách hàng 1,5-2m, kích thước hố 40 x 40cm sâu 30cm. Cuốc hốc để ải trước khi trồng ít nhất 15 ngày.
  • Phân bón lót:
Bón lót phân chuồng mục (10 tấn/ha), trộn đều. Không dùng phân tươi vì có thể làm thối rễ. Bón lót 5kg phân chuồng hoai 0,2kg supe lân hoặc 0,3kg phân NPK cho mỗi hố, dùng cuốc trộn đều phân với đất, lấp cho gần đầy hố.
  •  Kỹ thuật trồng cây ba kích:
Dùng dao sắc rạch bỏ túi bầu (tránh để vỡ bầu), đặt cây giống vào giữa hố, lấp đất đến qua cổ rễ và nén chặt. Trồng xong cần tưới nước đẫm nước ngay để tránh mất nước và rễ tiếp xúc với đất được tốt. Sau trồng cần phải cắm cọc cho Ba kích leo lên.

2. Cách chăm sóc cây

Cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô, khi trái đang lớn và lúc quả sắp chín. Phủ gốc chè bằng cỏ, rác, cây phân xanh,… để hạn chế cỏ dại; xới phá váng sau mỗi trận mưa to. Làm cỏ vụ xuân tháng 1-2 và vụ thu tháng 8-9, xới sạch toàn bộ diện tích một lần/vụ; một năm xới gốc 2-3 lần.
Trồng xong cần tưới ẩm cho cây khoảng 2 tuần đầu để cây bén rễ hồi xanh. Trong 2 năm đầu, mỗi năm chăm sóc 2 – 3 lần và từ năm thứ 3 mỗi năm 1 – 2 lần. Nội dung chăm sóc là cuốc xới đất quanh khóm cây, nhặt cỏ dại và diệt bỏ những cây chèn ép.
Năm thứ 2 bón bổ sung khoảng 3kg phân chuồng hoai hoặc 0,3kg NPK cho mỗi gốc. Chú ý điều chỉnh độ che tán 30-50%.
Cây ba kích ít khi bị bệnh. Tuy nhiên có thể xuất hiện một số bệnh như lở cổ rễ, vàng lá trong điều kiện thâm canh cao. Thường sử dụng thuốc Boocđô nồng độ 0,5% hoặc kết hợp với Benlat 0,1% để phun vào gốc và lá để phòng và trị. Rắc vôi bột xung quanh luống để chống kiến, dế.

Viết một bình luận