Các Loài Ong Mật Ở Việt Nam

Ong mật là một loài động vật chân đốt (tiết) (Ar htropoda), lớp Sâu bọ (ingecta), lớp côn trùng có cánh màng (ilymenoplcra) , Họ ong mật Aptsdite, chi (chi) ong mật Apis. Trên thế giới có 7 loài ong cho mật nhưng ở đây chỉ xin giới thiệu 4 loài chính như sau:

Nội dung trong bài

Ong mật chính

Về phân loại ong mật, trong Việt Nam có tất cả 4 loài ong mật nói trên, nhưng chỉ có 2 loài A. cerana và A mellifera có giá trị kinh tế cao đang được nuôi. rộng rãi. Hai loài A. ilorsata và A. florea là ong rừng chưa được thuần hóa và mới khai thác ở mức độ hoang dã.

Ong vo ve (ong nhỏ – Apisflorea)

ong bắp cày Những loài có kích thước nhỏ nhất trong chi Apis. Sống ở các vùng ấm áp của Châu Á. Phía tây từ Oman đến vùng dông là Indonesia, chủ yếu là Pakistan, Ấn Độ, Sri Lanka, Makiixia, Thái Lan, Việt Nam và vùng cực nam của Trung Quốc.

Kích thước cơ thể ong bắp cày nhỏ: chiều dài của ong chúa là 13mm. Ong thợ 7 – 8 m. Ong đực là 13mm. Sự khác biệt về kích thước giữa các loại là rất lớn. Ong đực có màu đen, ong thợ có màu đỏ gạch và có chiều dài vòi là 3,44mm.

Ong xây bánh tổ giấu một cành cây nhỏ tiếp xúc với không khí, bên trên bánh tổ phồng lên hình chóp bám vào cành, từ đó bánh tổ bị treo xuống. . Bánh tổ ong được phủ 3 – 4 lớp (khoảng 3/4 số ong trong đàn) để bảo vệ và điều hòa nhiệt độ trong khoảng 32 – 36 ° C. Bánh tổ bao quanh cành cây là tổ. chứa mật thì bề mặt cong, là nơi ong thu hoạch ra vào, là nơi để ong lặn tìm, nhảy múa báo hiệu về nguồn thức ăn. Liền kề các lỗ lấy mật là các lỗ làm tổ của ong thợ. Trong mùa phân chia ở phía dưới có lỗ tổ ong đực và một số mũ hoàng gia.

Các Loài Ong Mật Ở Việt Nam
Các Loài Ong Mật Ở Việt Nam

Ở hai đầu cành ngoài của tổ ong được phủ một lớp keo rộng 2,5 – 4cm để ngăn kiến ​​tấn công tổ. Trong mùa phân chia có thể có một số sư đoàn bay từ một nhóm lớn. Ong A.florea có thể dễ dàng rời tổ bay khi thiếu thức ăn, thời tiết khắc nghiệt và bị kẻ thù tấn công. Trữ lượng mật của loài A.florea ít hơn các loài khác từ 0,7 – 1,2kg nên ít có giá trị kinh tế. Nhưng ở một số vùng, nhiều người nuôi ong sống bằng nghề săn mật, thậm chí có người còn chặt những cành nhỏ bằng bánh tổ và cho ong buộc vào cành nhỏ gần nhà để khai thác. Khi khai thác, họ chỉ chặt lấy mật rồi dùng dây buộc sâu non, ấu trùng vào cành cây. Bằng phương pháp này, mật có thể được thu hoạch từ 2 – 3 lần từ một tổ.

Ở nước ta, A. florea có nhiều ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, Sơn La… và các tỉnh phía Nam có nhiều rừng tràm như Long Á, Đông Tháp, Minh Hải, Kiên Giang… Ở Việt Nam còn có một loài ong khác có cấu tạo, tập tính và phân bố tương tự như A. florea, nhưng nhỏ hơn một chút là A. andrenifongis. Cơ thể của loài ong này (phần bụng sau) có màu đen, trong khi A.florea có màu đỏ, A. andrenifongis có tập tính hung dữ hơn A.florea.

Ong mật (Apis dorsata còn gọi là ong bảo vệ)

Các cơ quan của ong có một sự phân bố tương tự như phân bố của ong bắp cày: ở phía tây của Ấn Độ, Apganixane ở phía đông là Philippines; phía bắc từ nam Trung Quốc đến nam trên đảo Timor. Nó được gọi là “khổng lồ” vì kích thước lớn nhất trong chi Apis. Chiều dài riêng của ong thợ là 18mm, ong đực là 16mm. Ong chúa chỉ dài hơn ong thợ một chút. Bụng ong thợ có màu nâu đỏ, chiều dài của ong thợ là 6,68mm. Ong A. dorsata chỉ xây tổ trên không dưới các vách đá hoặc cành cây. Kích thước của bánh tổ khá lớn: dài 0,5 – 2m, rộng 0,5 – 0,7m, phía trên bánh tổ là nơi chứa mật, tiếp đến là phần chứa phấn rồi đến nơi nuôi ấu trùng.

Trung bình một chiếc bánh tổ có 23 nghìn lỗ tổ. Độ dày của bánh tổ nơi chứa mật 10 – 20cm, nơi nuôi ấu trùng 3,5cm. Lỗ ong thợ và ong đực có kích thước như nhau (rộng 5,35 – 5,64mm, sâu 16mm). Các lỗ tổ ong đực của A. doisata không tập trung thành khối và có số lượng lớn bên dưới tổ ong như A. cerana mà thành dải, xen kẽ với các tổ ong thợ. Có thể thấy rõ các dải của ong đực với các vít nắp cao hơn và tạo thành các dải ở nơi ong thợ nở ra (vì ong thợ có thời gian sinh trưởng ngắn hơn). Phần dưới của bánh tổ quay ra ngoài ánh sáng (phần tiếp giáp giữa mật dự trữ, phấn và ấu trùng) gọi là miệng, là bộ phận hoạt động của ong, là nơi thu hoạch ong. Và đây là nơi diễn ra các vũ điệu của ong trinh sát để thông báo cho đồng loại về nguồn thức ăn.

Xem thêm:  Quá Trình Phát Triển Của Gà

Bên ngoài bánh tổ có một lớp ong dày bám vào tạo thành “màn bảo vệ”. Giữa màn bảo vệ và bánh tổ có khoảng cách 1-2cm, là lối đi của ong để nuôi dưỡng ấu trùng, chế biến mật thành mật và làm các công việc khác trong tổ. Ong A. dorsata có khả năng điều hòa nhiệt độ từ 27 – 37 ° C (Mardan. 1989). Khối lượng của một đàn ong từ 5 – 10 kg, 1 kg có khoảng 6500 con (Mutto, 1956). Trữ lượng mật bình quân 4 – 6 kg / đàn, cá biệt 45 – 50 kg. Ong A. dorsala thu hoạch mật rất khó, chúng bắt đầu lấy mật sớm hơn vào buổi sáng và kết thúc muộn hơn vào buổi tối so với A.florea và A.cerana. Việc thu hoạch ong đôi khi được tìm thấy vào những đêm trăng sáng (Divan và Salvi. 1965). Thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành của ong thợ là 16 – 20 ngày, ong chúa 13 – 13,5 ngày và ong đực 20 – 23,5 ngày (Qayvum và Nebil L. 1968)

Bee A. dorsata nổi tiếng hung dữ và rất bảo vệ tổ, có tới 80 – 90% ong thợ đậu trong màn bảo vệ. Khi ong báo động ở phần “miệng” bên dưới tấm màn bảo vệ di chuyển nhanh chóng, ong sẽ vẫy cánh theo tiếng huýt sáo để xua đuổi kẻ thù. Khi tấn công, hàng trăm con ong bay ra lao vào kẻ thù và đuổi kẻ thù đến vài trăm mét. Trong rừng nhiệt đới của một số nước như Ấn Độ, Malaixia, Lào, Campuchia, Việt Nam, Philippin… có nhiều tổ ong (30 – 150 tổ) trên cùng một cây cao 3 – 50cm, gọi là tổ ong. .

Mùa phân chia của A. dorsata giống với A. ceranat trong vùng. Trước khi phân chia đàn ong xây dựng 300 – 400 lỗ tổ ong đực và 5 – 10 mũ chúa dưới bánh tổ. Các lỗ tổ ong đực không xây chung một chỗ như các loài ong khác mà xây các lỗ trên bánh tổ theo hình tròn. Từ một đàn có thể chia thành nhiều đàn. Ong A. dorsata thường di cư theo mùa để di chuyển đến những vùng có mật hoa và thực vật khí hậu thích hợp. Nó có thể di chuyển xa tới 50 – 200 km.

Ở Ấn Độ, Malaixia, Inđônêxia, Lào… người ta thường tổ chức lấy mật ong A. dorsata vào ban đêm (đêm tối): trèo lên cây dùng khói hút tổ, sau đó quét ong cắt bánh tổ vào rổ hoặc túi vải rồi lọc qua màn. Ở Ấn Độ, Lào… có đến 60-70% sản lượng mật ong và sáp được thu hoạch từ A. dorsata.

Ở nước ta, A. dorsata phân bố ở các tỉnh. Rừng miền núi phía Bắc, các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và đặc biệt là nhiều tỉnh cực Nam Bộ nơi có rừng tràm ngập nước. Việc khai thác mật ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Tây cũng giống như ở các nước khác là thợ săn mật dùng lửa và khói để đuổi ong hoặc tiêu diệt cả đàn khi biết tổ có mật (theo kinh nghiệm quan sát: khi thấy phần trên của bánh tổ chuyển sang màu sáng, ong xây và đậu phồng lên, có mật là mật đã chín.)

Tại hai tỉnh Minh Hải và Kiên Giang, nơi có diện tích rừng tràm lớn nhất, có hình thức khai thác A. dorsata có một không hai trên thế giới. Chúng dẫn dụ ong về làm tổ, khi ong có mật mới khai thác mật nên mỗi đợt thu hoạch từ 2 – 3 lần. (Vì vậy, ong mật được gọi là “ong ngỗng”). Giàn ong thường có chiều dài 2m, đường kính 0,1 – 0,2m, chẻ đôi và đóng dốc trên hai cọc: một cọc cao 1,8 – 2m, một cọc thấp 1,0 – 1,5m. Mặt kèo rộng được đặt hướng lên trên để nước chảy xuống dưới không xâm nhập vào đàn. Đầu giàn cao quay ra khoảng trống đường kính 4 – 5m gọi là Tràng. Giàn thường làm bằng các loại gỗ không mùi như tràm, cau, giá đỗ. Trung bình mỗi người gác kèo khoảng 50-60 kèo và khoảng 250kg mật ong một năm. Sản lượng mật ong ong hàng năm ở U Minh ước đạt khoảng 80 tấn.

Xem thêm:  Cho Lợn Ăn Bao Nhiêu Là Hợp Lý

Trước đây ở Kahmanlan (Indonesia) ngư dân cũng có kỹ thuật canh gác tương tự để thu hoạch mật (Demol’S 1993) nhưng ngày nay tỷ lệ này chỉ còn rất ít. Trong tương lai, kỹ thuật canh hoa của người dân U Minh sẽ được phổ biến ra các vùng có điều kiện trồng hoa tương tự ở nước ta cũng như các nước trong khu vực Châu Á.

Tuy nhiên, do nạn phá rừng diễn ra mạnh mẽ và khai thác ong không hợp lý nên số lượng loài ong A. dorsata ở châu Á nói chung và ở nước ta ngày càng giảm. bắn nghiêm trọng.

Có một loài ong tương tự ở Nepal, A. laboriosa. Loài ong này thường làm tổ trên các vách đá ở các thung lũng của dãy Himalaya nơi có độ cao 2000 – 3000m so với mực nước biển.

Ong châu Á nội địa (Apis cerana)

Ong A. cerana đã được nuôi trong hàng nghìn năm ở Trung Quốc, Việt Nam và một số quốc gia khác. Trong tự nhiên, loài này phân bố rộng hơn A.florea và A. dorsata. Tây từ biên giới Iran, Philippines; phía bắc là vùng UssHri của Liên bang Nga và phía nam là Indonesia. Từ năm 1987 chúng được đưa vào Papua Niughine. Do phạm vi phân bố rộng, nhiều nơi (theo vùng địa lý) nên chúng khác nhau nhiều về kích thước lỗ tổ, kích thước thân ong, số lượng ong trong đàn, lượng mật dự trữ. , các đặc điểm của sự phân bố của các đàn. bay…. Các chủng tộc ôn đới, cận nhiệt đới dự trữ nhiều mật hơn, ít phân nhóm hơn và dễ bay hơi hơn so với các chủng tộc ở phía nam nhiệt đới.

Ong A. cerana xây một vài ổ bánh tổ ở nơi kín trong hốc cây, hốc đá, đôi khi dưới mái nhà… Do đặc điểm này, người dân châu Á nuôi ong trong hốc, lỗ, rỗng, hộp vuông…

Theo Ruttner, 1987, ong A. cerami có 4 phân loài:

  • cerana cerana;
  • cerana inchca;
  • ceraua healaya;
  • cerana japonica;

Theo Yang Guang Huang (1989, 1992), có 5 phân loài riêng ở Trung Quốc:

– cerana cerana;

– cerana indica và 3 phân loài mới;

– cerana abaengis;

– cerana skorivoki;

– cerana hainanengis;

Từ những năm 1950, ong A. cerana đã được chuyển từ nuôi ong truyền thống trong chuồng nuôi ong sang nuôi lan trong bể có cầu di động ở Trung Quốc, Ấn Độ. Việt Nam… Các nước nuôi nhiều ong A. cerana là Trung Quốc với 2 triệu dân, trong đó 50% được nuôi trong các bể hiện đại với năng suất bình quân 20kg / đàn (Yang 1992); Ấn Độ có hơn 700 nghìn người. Pakistan 46 nghìn đàn (Crane, E. 1989). Việt Nam có đàn trên 100 nghìn con, trong đó 500 nghìn con được nuôi trong các thùng hiện đại.

Ngày nay ở Châu Á số lượng ong A. cerana ngày càng giảm, một số khu vực có nguy cơ bị chết do nạn phá rừng. và sự du nhập của giống ong châu Âu A. mellifera có năng suất cao hơn. Ngay cả ở vùng Casmia nơi giống A. cerana phát triển không thua kém A. mellifera về kích thước, cơ thể và sản lượng mật.

Ong mắt đỏ Apis koschevnikovi gần đây đã được phát hiện lại ở Sabat (Malaysia), nam Kahmantan và tây đảo Xumalra (Indonesia) với kích thước và hành vi tương tự. Ong châu Á A.cerana.

Ong Châu Âu (Apis mellifera)

Có 24 phân loài, trước đây chỉ phân bố ở Châu Âu, Châu Phi và Tây Á. Từ thế kỷ XVII, chúng được đưa đến văn hóa ở Châu Mỹ, Úc và Nin Zealand. Do năng suất cao và nhiều loại sản phẩm, chúng hiện được nuôi rộng rãi trên tất cả các lục địa.

Tổ ong của A. mellifera tương tự như tổ của A. cerana, bao gồm các bánh tổ song song, thẳng đứng được xây dựng trong không gian. Nhưng do kích thước cơ thể to lớn và quân số đông hơn, tổ của chúng chứa khoảng 45 lít mật ong (A. cerana 20-25 lít). Số lượng đóng quân 20.000-60.000 con và trữ lượng mật: 25-30kg / đàn. Các loài ong ít biến động ngoại trừ ong ở Châu Phi. Vì điều kiện mùa đông ở châu Âu rất lạnh và kéo dài nên chỉ những đàn bò dự trữ nhiều thức ăn mới có thể sống sót, nếu không đủ thức ăn sẽ chết vì lạnh và đói. Trong số 24 loài, bốn loài được nuôi rộng rãi nhất: Apis mellifera ligustica (ong Ý), Am carnica, Am Caucasia (ong Capcazo) và ong nâu châu Âu Am mellifera.

Trong số các loài ong mật, A. mellifera là loài được nghiên cứu sớm nhất và đầy đủ nhất. Ngày nay A. mellifera được du nhập và nuôi rộng rãi ở Châu Á. Một số nơi như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Bắc Thái Lan, Bắc Ấn Độ đã nhập thành công nấm A. mellifera và cho ra sản phẩm cao. Nhưng ở nhiều nơi có nguồn mật phân tán, khí hậu khắc nghiệt, việc nhập ong thất bại, vì loài này còn bị các loại ký sinh trùng như Varroa-jacobsoni, Tropilaelap.s clareae và một số kẻ thù như ong bắp cày. (Vespa), chim ăn ong (Meorops) tấn công. Việc nhập khẩu A. mellifera cũng mang lại ký sinh trùng và các bệnh như nấm khí quản (Acarapix woodi), bệnh thối do ấu trùng châu Âu, bệnh bào tử túi (Nosema)… cho A. cerana. Do đó, hiện tượng giảm số lượng đàn A. cerana rất phức tạp mà không có cách giải quyết.

Xem thêm:  Cách Chữa Trị Khi Chó Bị Sốt

Nghề nuôi ong châu Âu (ong Ý) ở Nam Việt Nam

Vào đầu những năm 1960, 200 con ong Apis metifera sinh ra ở Ý được nhập từ Hồng Kông vào miền Nam nước ta. Qua hơn 4 thập kỷ, chúng đã cho thấy khả năng thích nghi tốt với điều kiện hoa lá và khí hậu ở một số vùng của Việt Nam như ở các tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Ban Mê Thuột, Đồng Nai, Tiền Giang…. các tỉnh có nguồn mật dồi dào, số lượng dồi dào, khí hậu ổn định nên đàn ong phát triển tốt, sản lượng mật cao: bình quân 30kg / đàn / năm, nhất là một số nơi như Gia Lai Năng. năng suất đạt 50kg / đàn / năm.

Hiện số đàn ong Ý ở nước ta khoảng 70.000 – 80.000 đàn, sản lượng khoảng 2000 tấn, chiếm 70% tổng sản lượng mật ong cả nước và chiếm 100%. lượng mật khẩu xuất. Sản phẩm của ong Ý rất đa dạng: ngoài mật ong, sáp ong, người nuôi ong còn lấy phấn hoa và sữa ong chúa. Ong Ý có ưu điểm là tính công nghiệp cao, đàn ít biến động nên một người nuôi ong có thể quản lý 200-300 đàn. Do những đặc điểm ưu việt của mình, nghề nuôi ong Ý đang trở thành ngành sản xuất hàng hóa, đạt hiệu quả kinh tế cao (GTSL / CPSX = 1,11 (giá trị sản lượng / giá thành sản xuất) (Phạm Thanh Bình và Nguyễn Quang Tuấn 1992).

Vì vậy, đầu những năm 1990, ong được nuôi ồ ạt ở các tỉnh cực Bắc và cực Nam, ở miền Trung và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nơi có nguồn mật phân tán, khí hậu thay đổi, hiệu quả kinh tế của ong ngoại giá không cao vì chi phí vận chuyển và đường cho ong nhưng giá đường sống, Việt Nam đắt đỏ nên nuôi ong Ý khá rủi ro.

Trong khi đó, Apis Giống ong nội cerana có thể phát triển tốt ở cả hai nước, khu vực có nguồn lợi tập trung và phân tán vì là ong bản địa, ong nội có thể nuôi quy mô lớn, còn ong Ý có thể nuôi lâu dài, quy mô nhỏ. , nghề nuôi ong nội ở miền Nam h của nước ta là một nghề phụ nhưng hiệu quả rất tiết kiệm, GTSL / CPSX = 2,97.

Tuy nhiên, do mật ong nội có hàm lượng nước cao, khi bảo quản mật dễ lên men nên các hộ nuôi ong quy mô lớn gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm. . Ngược lại, những người nuôi ong quy mô nhỏ sẵn sàng tiêu thụ mật của họ với giá cao gấp 2-5 lần so với giá xuất khẩu. Vì vậy, đối với mỗi địa phương, trước khi chọn nuôi bất kỳ giống ong nào, nội hay ngoại, người nuôi ong phải cân nhắc số lượng hoa, nguồn mật, khả năng đầu tư thời gian và tiền bạc của mình để quyết định.

Ong phân cấp (Ong châu Phi)

Năm 1956 WEKerr được chuyển 63 Apis mellifera Ong chúa châu Phi nhiệt đới scutellata từ Nam Phi và Tanzania đến Piracicaba, Spaulo Brazin với ý định tăng sản lượng mật để thay thế loài A. mellifera có nguồn gốc châu Âu được nhập khẩu từ những năm trước. Năm 1957 một số đàn ong tách ra và do đó dẫn đến sự hình thành của ong Châu Phi với ong Châu Âu.

Ong lai Châu Phi tuy quần tụ nhỏ nhưng khả năng phân đàn rất cao (5 – 10 tổ / năm), chúng thường bay nên khả năng phát tán rất lớn: 300 con – 500 km / năm. Cho đến nay nó đã lan rộng đến hầu hết Nam Mỹ và di chuyển qua Mexico vào Hoa Kỳ. Ong châu Phi rất hung dữ, đốt nhiều người và động vật khi ở gần chúng. Vì vậy, còn được gọi là ong sát thủ. Do đặc tính hung dữ gây khó khăn cho việc khai thác, sản lượng mật ong thấp là một vấn đề đối với nghề nuôi ong ở châu Mỹ.

Về Kim Khiêm

Là một người làm nông nghiệp từ khi còn nhỏ và có niềm đam mê với trồng trọt, chăn nuôi, thú cưng...Mình mong muốn mang đến cho bạn nội dung hữu ích có tính thực tiễn nhất.

Viết một bình luận