Bệnh Tụ Huyết Trùng Ở Lợn

1. Đặc điểm và nguyên nhân

Hầu hết tất cả gia súc, gia cầm, động vật hoang dã đều mắc bệnh. Lợn ở lứa tuổi nào cũng có thể mắc bệnh, thường gặp ở lợn 3 – 6 tháng tuổi.

Vi khuẩn tụ huyết trùng tìm thấy ở lợn khỏe mạnh thường tập trung ở niêm mạc đường hô hấp. Khi gặp các yếu tố bất lợi như thời tiết thay đổi đột ngột, thay đổi đàn, dinh dưỡng kém… vi khuẩn sẽ phát triển thành dịch bệnh. Bệnh lây truyền trong đàn qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với chất thải, dụng cụ chăn nuôi có mang mầm bệnh.

Bệnh Tụ Huyết Trùng Ở Lợn
Bệnh Tụ Huyết Trùng Ở Lợn

2. Đường dây truyền tải

Lây qua đường tiêu hóa và đường hô hấp. Lây nhiễm trực tiếp từ gia súc chết hoặc bị bệnh.

Lây truyền gián tiếp qua dụng cụ, thiết bị chăn nuôi, thức ăn, nước uống…

3. Triệu chứng

Thời gian ủ bệnh 1 – 14 ngày, thường mắc 2 bệnh:

Cấp tính

  • Lợn sốt cao trên 41 0 C; hôn mê, khó thở, thở gấp; ngồi và thở trong tư thế ngồi như một con chó. Lợn kém ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn.
  • Hầu, mặt sưng phù, tai và bụng xuất hiện các mảng tím đỏ. Niêm mạc mắt tím tái, chảy nước mũi lúc đầu đục, sau đó có máu.
  • Lợn bị Tụ huyết trùng (sưng hầu họng, tụ máu).
  • Bệnh tiến triển 1 – 2 ngày hoặc kéo dài đến 5 – 10 ngày. Con lợn gầy yếu dần rồi chết, nếu không có sẽ chuyển sang thể mãn tính.

Mãn tính

  • Đây là dạng thường gặp, lợn yếu đi, ho, khó thở, đôi khi ho khan hoặc ho liên tục.
  • Lúc đầu phân táo chuyển sang tiêu chảy, phân có mùi khó chịu.
  • Trên da có những vết bầm máu, nhất là ở tai, bụng, đùi dưới và bẹn.
  • Nếu không được điều trị kịp thời, tùy theo mức độ bệnh, lợn sẽ chết sau 1 – 2 tháng.
Xem thêm:  Nồng Độ Oxy Hòa Tan Trong Nước

4. Thương tổn

Cấp tính

  • Xoang ngực, xoang màng tim và xoang phúc mạc tích trữ nhiều nước.
  • Phổi bị viêm nhiều, có màu đỏ sẫm do tụ máu và xuất huyết. Phổi xơ hóa có nhiều nốt hoại tử, màng phổi bị viêm dính vào lồng ngực.
  • Các hạch bạch huyết vùng hầu họng và hạch mạc treo phì đại, xung huyết.
  • Tụ máu, xuất huyết nhiều cơ quan nội tạng.
  • Thận ứ máu đỏ tươi, cục máu đông cắt hở, lách to, tụ máu.

Mãn tính

  • Lợn thường rất gầy. Phổi viêm nhiều xơ, có thể có hoại tử hạt đậu.
  • Bị viêm khớp có mủ, gây đau nhức chân, đi lại khó khăn.

5. Chẩn đoán

Căn cứ vào các triệu chứng và bệnh đặc trưng của bệnh và dịch tễ từng vùng.

Phân lập nguyên nhân gây bệnh.

6. Phòng và chữa bệnh

6.1. Phòng ngừa

Vệ sinh phòng bệnh

Chuồng phù hợp với từng loại heo và lứa tuổi khác nhau, có tường bao, rào chắn. Chuồng trại luôn thông thoáng, đủ ánh sáng, mát về mùa hè, ấm về mùa đông.

Thường xuyên vệ sinh, tiêu độc khử trùng định kỳ chuồng trại, vệ sinh khử trùng máng ăn, máng uống và dụng cụ chăn nuôi, quần áo bảo hộ lao động…

Sau mỗi đợt cho ăn phải vệ sinh, sát trùng chuồng trại, sau đó để trống. Lợn mới mua về phải được nuôi cách ly ở khu vực riêng từ 15 – 20 ngày trước khi nhập đàn.

Xem thêm:  Mô Hình Nuôi Dúi Hiệu Quả

Phân chuồng, rác và chất thải trong chuồng cần được thu gom thường xuyên và cho vào nơi tập kết riêng để giữ cho chuồng trại luôn sạch sẽ.

Hạn chế xe cộ, người và vật lạ vào khu vực chăn nuôi.

Các biện pháp khử trùng tiêu độc:

  • Dùng ánh sáng mặt trời để làm khô máng thức ăn, máng uống, dụng cụ chăn nuôi.
  • Bón nước vôi loãng 10% (1 kg vôi tôi / 10 lít nước) vào chuồng trại, môi trường xung quanh.
  • Sử dụng một số hóa chất khử trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Vệ sinh ăn uống:

  • Đồ ăn thức uống phải đảm bảo vệ sinh.
  • Bệnh tụ huyết trùng là bệnh truyền nhiễm có tính chất thổ nhưỡng, vi khuẩn cư trú khắp nơi, gặp điều kiện thuận lợi bùng phát.

Phòng bệnh bằng vắc xin

Đây là biện pháp chủ động, tích cực và hiệu quả nhất, tiêm 2-3 lần / năm tùy theo mục đích chăn nuôi và dịch tễ từng vùng. Lần đầu tiên tiêm lúc 45-50 ngày tuổi, sau đó cứ 6 tháng tiêm nhắc lại.

Lưu ý: Ở những nơi thường xuyên xảy ra dịch, cần tiêm nhắc lại 2 mũi sau lần 1 khoảng 3 – 4 tuần, sau đó cứ 6 tháng tiêm nhắc lại.

6.2. Chữa khỏi

Có thể sử dụng một số loại thuốc như Streptomycin, Kanamycin, Ampikana, Oxytetracyclin… theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất. Kết hợp bổ sung vitamin, thuốc hỗ trợ, hỗ trợ cho lợn.

Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh, tiêu độc chuồng trại và môi trường xung quanh.

Tác nhân gây bệnh nhiễm trùng huyết được Bollinger phát hiện lần đầu tiên trên bò vào năm 1878 tại Munic, Đức. Trong những năm tiếp theo, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã phát hiện ra mầm bệnh này ở các loài động vật khác nhau như thỏ năm 1881, lợn năm 1886, trâu năm 1887. Từ năm 1959 đến năm 1976, Pavri và Apte đã ghi nhận vi khuẩn kìm khuẩn gây bệnh cho hươu, nai, chó, mèo, ngựa, chồn, khỉ…

Năm 1880, Louis Passteur lần đầu tiên phân lập được vi khuẩn gây bệnh trên thân thịt gà. Sau đó, nhiều nhà khoa học cũng phân lập được vi khuẩn gây bệnh tương tự ở các loài động vật khác nhau. Năm 1887, Trevisan đề xuất đặt tên vi khuẩn Pasteurella để vinh danh Louis Passteur.

Từ năm 1887 đến nay, bệnh tụ huyết trùng đã được phát hiện ở nhiều nước trên thế giới, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều người. các nước, đặc biệt là các nước nhiệt đới nóng ẩm của Châu Á như Đông Dương, Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia. Tại Nhật Bản, bệnh được phát hiện năm 1923, nhưng không gây thành dịch và Không có biểu hiện dịch tễ. Căn bệnh này cũng được phát hiện tại Vườn thú Quốc gia Hoa Kỳ vào năm 1912.

Đến năm 1984, Tổ chức Dịch tễ học thế giới chính thức công bố bệnh Tụ huyết trùng trên trâu, bò và phân loại bệnh ở bảng B trong danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở gia súc. Đến năm 1992, dịch bệnh xảy ra ở Châu Phi và gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàn gia súc.

Ở Việt Nam, trong những năm 1970, 80% số vụ dịch và 84% số gia súc bị thiệt hại do dịch bệnh. Tụ huyết trùng các tỉnh phía Nam. Đến năm 1990, sự phân bố theo địa lý của bệnh nghiêng về các tỉnh phía Bắc, số địa phương có dịch cũng tăng lên đáng kể, hàng năm có tới 20-25 tỉnh báo cáo bệnh lưu hành.

Viết một bình luận