Bệnh Tụ Huyết Trùng Ở Dê

Nguyên nhân gây tụ huyết trùng ở dê

Bệnh do một số loài vi khuẩn thuộc giống Pasteurella gây ra, trong đó P. multocida thường gây nhiễm trùng huyết, còn P. haemolytica thường gây viêm phổi.

Đây là loại vi khuẩn có sức đề kháng yếu với các chất khử trùng, đối với ánh nắng và nhiệt trực tiếp, nhưng sống lâu năm trong nền nhà, trong đất trên đồng cỏ vài tháng, đôi khi thậm chí. năm. Hơn nữa, vi khuẩn có thể sống trong đường hô hấp nên rất khó hạn chế sự xâm nhập của cơ thể hoặc tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn.

Bệnh Tụ Huyết Trùng Ở Dê
Bệnh Tụ Huyết Trùng Ở Dê

Đặc điểm dịch tễ học

Bệnh xảy ra quanh năm ở mọi lứa tuổi, nhưng thường nặng khi chuyển mùa với các biểu hiện điển hình là viêm phổi, nhiễm trùng huyết và viêm vú. Khi dê gặp các vấn đề bất lợi làm giảm sức đề kháng (như khí hậu, thức ăn thay đổi đột ngột, vận chuyển hoặc nhiễm trùng), vi khuẩn phát triển mạnh và gây bệnh.

Triệu chứng

Bệnh thường có các triệu chứng điển hình sau:

  • Viêm phổi: Ở thể này dê thường có các biểu hiện như mệt mỏi, ít ăn, ho, khó thở. Mũi có chất nhầy màu trắng hoặc vàng dính quanh lỗ mũi, đôi khi dê ho ra chất nhầy. Cơ thể dê gầy và có thể chết sau một thời gian. Khi thăm khám sẽ thấy một số biểu hiện điển hình như: phổi xẹp, vùng phổi bị phù nề, khí quản có chứa dịch nhầy. Dạng bệnh này rất phổ biến ở dê nuôi trong môi trường mật độ dày, thiếu ánh sáng và ẩm lạnh.
  • Nhiễm trùng máu: Dê sốt (40 – 410C), ủ rũ, mệt mỏi, bỏ ăn, nằm một chỗ và chết nhanh. Nếu có thể mổ sẽ thấy một số đặc điểm như: tim to, trong xoang tim, xoang ngực và xoang bụng chứa nhiều nước vàng; thịt sẫm màu, trên bề mặt cơ tim, phổi xuất huyết nhiều.
  • Bệnh viêm vú: Thường xảy ra ở dê cái, con vật sốt nhẹ, vú sưng to, căng cứng; Đôi khi thấy có mủ khi bóp núm vú, không cho con bú hoặc vắt sữa.
Xem thêm:  Kỹ Thuật Làm Chuồng Nuôi Lợn Hiệu Quả Nhất

Phòng ngừa

Điều trị rất khó, hiệu quả thường chậm và tốn kém nên áp dụng vắc xin phòng bệnh là giải pháp tốt nhất. Vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng ở dê dạng bất hoạt, dạng lỏng, màu vàng nhạt. Liều tiêm: 2 ml / con đối với dê từ 2 tháng tuổi trở lên, tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Vaccine có khả năng miễn dịch trong 6 tháng, vì vậy cần tiêm phòng định kỳ 2 lần / năm để phòng bệnh cho dê. Lưu ý: Lắc kỹ lọ vắc xin trước khi sử dụng và chỉ sử dụng trong ngày.

Khi không có dịch, định kỳ 2 tuần / lần khử trùng tiêu độc chuồng trại, bãi chăn thả, khi có dịch 2 – 3 lần / tuần. Chuồng trại và khu vực xung quanh cần được quét dọn sạch sẽ, khơi thông cống rãnh hàng ngày và đốt chất thải thường xuyên.

Trước khi đưa dê vào nuôi và sau khi xuất chuồng phải thu gom hết phân, rửa sạch chuồng bằng nước rồi sát trùng chuồng bằng một số loại hóa chất như như BKC, Virkon…. Rời chuồng 7 – 10 ngày trước khi nuôi vụ mới.

Không chăn thả dê cố định trong một bãi mà phải luân phiên để cây cối phát triển, giảm ô nhiễm. Nên tránh những vũng nước đọng trong chăn để hạn chế dê bị giun sán.

Hàng ngày theo dõi sức khỏe đàn dê, không sử dụng thức ăn ướt mưa, bùn đất. Vệ sinh máng ăn uống hàng ngày. Nước cho dê uống phải sạch, không bị ô nhiễm.

Xem thêm:  Bệnh Gumboro Ở Gà Là Bệnh Gì

Cách chữa bệnh

Dùng kháng sinh sớm và đúng liều lượng sẽ đạt hiệu quả cao. Có thể dùng các loại thuốc kháng sinh như Penicilin kết hợp với Streptomycin, Oxytetracyclin để điều trị bệnh. Liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất trên bao bì.

Cần chú ý kết hợp điều trị kháng sinh kết hợp với thuốc bổ sung thông thường; Lưu ý trong trường hợp khó thở, ho nhiều nên dùng thêm thuốc long đờm, hạ sốt. Cùng với đó, cần có chế độ chăm sóc, hỗ trợ tốt đối với dê đang điều trị bệnh sẽ giúp nhanh khỏi bệnh hơn.

Viết một bình luận